Ngan hang kien thuc trong ngo

 

Vùng trồng ngô đồng bằng Bắc bộ bao gồm các tỉnh  Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Tây cũ, Hải Hưng, Thái Bình, Nam Hà, Ninh Bình, thành phố  Hà Nội và thành phố Hải Phòng.
Đồng bằng Bắc bộ được đặc trưng bởi bề mặt khá bằng phẳng và hơi nghiêng ra biển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Ngoại trừ một số ngọn núi còn sót, vùng đồng bằng bồi tích chênh lệch độ cao từ 1-10 m. Vùng được bồi đắp sản phẩm phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. Bề mặt địa hình do sản phẩm bồi đắp phù sa hệ thống sông Hồng bằng phẳng và ít đồi núi sót hơn bề mặt địa hình do sản phẩm bồi đắp của hệ sống Thái Bình. Diện tích tự nhiên 1,25 triệu ha.

a. Tài nguyên đất
  Trên toàn đồng bằng trừ các đá gốc sót lại đều là đất bồi tụ và có liên quan đến đặc tính phù sa sông Hồng và sông Thái Bình, chế độ bồi tích, chế độ thủy văn sông ngòi. Đất phù sa ngoài đê được bồi hàng năm khoảng 130.000 ha mà 75% là đất phù sa sông Hồng có thành phần cơ giới nhẹ, phì nhiêu thích hợp cho trồng Ngô. Đất phù sa trong đê chiếm diện tích lớn nhất. Ở các tiểu vùng trũng thấp hình thành đất lầy diện tích chiếm khoảng 46.000 ha. Vùng ven biển đất phần lớn là nhóm đất mặn có diện tích là 132.253 ha (đất mặn sú, vẹt, đước: 36.607ha; đất mặn nhiều: 30.140 ha; đất mặn trung bình và ít: 65.504 ha) và nhóm đất phèn có diện tích là 78.615 ha (phèn tiềm tàng: 54.545 ha; phèn hoạt động: 24,070 ha). Rìa đồng bằng là một dãi đất xám bạc màu, là đất phù sa cũ do bị rữa trôi và đã được canh tác lâu đời.
Trong đó nhóm đất phù sa có diện tích khoảng 680 nghìn ha (đất phù sa hệ thống sông Hồng có diện tích 453 nghìn ha; đất phù sa hệ thống sông Thái Bình khoảng 227 nghìn ha).
Ngô vùng này được trồng trên đất phù sa được bồi hàng năm dọc các bãi sông Hồng, sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình, sông Đáy và những sông nhỏ khác ở trong vùng và đất phù sa trong đê không được bồi hàng năm, đất 2 vụ lúa, đất trồng màu…

+ Đất phù sa hệ thống sông Hồng được phân bố ở các tỉnh, thành Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình… Đất có chất lượng khá tốt: thành phầp cơ giới trung bình, có màu nâu tươi, phản ứng từ trung tính đến hơi kiềm, độ no bazơ cao, mùn và đạm tổng số trung bình đến khá, hàm lượng lân và kali khá, các chất dễ tiêu cao. Đất phù sa sông Hồng là đất lý tưởng để trồng nhiều loại cây như: Lúa, ngô, đậu đổ, lạc các loại rau và cây ăn quả…Tùy thuộc vào địa hình, loại đất mà chúng ta có thể bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý. Đất phù sa được bồi bố trí cơ cấu: Ngô xuân – Ngô hè thu; ngô xuân xen dong riềng. Đất phù sa không được bồi chúng ta bố trí cơ cấu: Lúa xuân-lúa mùa-ngô đông. Đậu tương được bố trí trồng xen với ngô.
+ Đất phù sa hệ thống sông Thái Bình có thành phần cơ giới nặng hơn so với phù sa của sông Hồng, có độ phì tự nhiên thấp hơn đất phù sa sông Hồng, nhưng chúng rất thích hợp cho việc trồng ngô.
Đất phù sa của hai hệ thống sông đều có một đặc điểm chung: Đất bãi ngoài đê có độ màu mỡ tốt nhưng không chủ động tưới tiêu, đất lúa có độ phì khá, chủ động tưới tiêu nhưng độ tơi xốp kém, dễ chậm thời vụ gieo trồng.
Bên cạnh đó, vùng còn có diện tích đất xám bạc màu khoảng 57 nghìn ha, tập trung ở các tỉnh, thành: Hà Nội, Bắc Ninh và Hải Dương. Lớp đất mặt có thành phần cơ giới là thịt nhẹ, màu xanh trắng. Tầng đế cầy hơi chặt và bắt đầu có glây, đất có độ phì tự nhiên thấp, nhưng vẫn thích hợp cho việc trồng ngô với điều kiện cần thâm canh và áp dụng các biện pháp canh tác phù hợp, cây ngô vẫn cho năng suất cao.

b. Thời vụ

Các vụ trồng ngô ở vùng này bao gồm, ngô Đông Xuân từ tháng 12 trên đất phù sa được bồi hàng năm hoặc đất màu trong đê và đất xám bạc màu, ngô Xuân trồng từ tháng 1 đến hết tháng 2 trên đất chuyên màu, đất mạ xuân, ngô Hè Thu trồng từ tháng 6 đến tháng 7 trên đất gò đồi, ngô Thu Đông trồng từ cuối tháng 8 đầu tháng 9 trên đất bãi cao, đất chuyên màu, đất mạ mùa và ngô Đông trồng từ trung tuần tháng 9 đến đầu tháng 10 chủ yếu trên đất 2 vụ lúa hoặc đất rau màu đậu đỗ vụ xuân-lúa mùa sớm. Trước đây ngô Đông Xuân và ngô Xuân là chính diện tích trồng nhiều năng suất cao, nhưng những năm gần đây diện tích ngô Đông Xuân và ngô Xuân giảm, ngược lại diện tích năng suất sản lượng ngô vụ Đông tăng rất nhanh chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất ngô cả năm của toàn vùng.

c. Những hạn chế chính

Hằng năm từ tháng 7- 9 hay có bão đổ bộ gây mưa lớn và nghập lụt và chịu ảnh hưởng của 20-21 đợt gió mùa Đông Bắc. Nhiệt độ thấp vào đầu vụ đông và cuối vụ mùa có thể xuống 6-8 0C (tháng 11) là một hạn chế đáng kể đối với cây trồng nói chung và ngô nói riêng. Hạn hán trong những tháng cuối vụ đông xuân và khoảng đến giữa vụ mùa hay gây giảm năng suất cây trồng. Sương muối và thời tiết nồm có khi gây tác hại và tạo điều kiện cho sâu bệnh hại ngô.

 

ABC

Ban biên tập

TT

Họ và tên

Cơ quan công tác

1

TS. Nguyễn Văn Vấn

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

2

PGS.TS. Nguyễn Văn Viết

Ban Khoa học & HTQT, Viện KHNNVN

3

TS. Hồ Quang Đức

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

4

TS. Nguyễn Công Vinh

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

5

ThS. Lê Văn Hải

Viện Nghiên cứu Ngô

6

ThS. Nguyễn Hoàng Long

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

7

ThS. Phạm Thị Xuân

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

8

CN. Lê Thị Liên

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

9

CN. Phạm Hồng Hạnh

Viện Bảo vệ thực vật

Ban Thông tin - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Địa chỉ: Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội