Ngan hang kien thuc trong ngo

 

 

Vùng đồng bằng sông Cửu Long gồm các tỉnh, thành phố: Cần Thơ, Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Cà Mau, Bạc Liêu và Sóc Trăng, diện tích tự nhiên 3,97 triệu ha.

 


 

 


Các loại đất chính:

 


- Đất phù sa:  602.000 ha, đất này tốt nhất, chủ yếu phân bố ở vùng ven và giữa sông Tiền, sông Hậu, hội tụ các yếu tố về đất, nước.

 


- Đất phèn: 1.610.000 ha (40,55%), trong đó đất phèn tiềm tàng có diện tích là 918.292 ha; đất phèn hoạt động 613.235 ha. Đất phèn có độ phì tự nhiên không thấp nhưng trong đất có nhiều yếu tố hạn chế. Giải quyết được vấn đề thủy lợi thì sẽ cải tạo tốt đưa vào sản xuất nông nghiệp có hiệu quả.

 


- Đất mặn:  884.199 ha (22,27 %) có độ phì nhiêu cao nhưng bị hạn chế do nhiễm mặn nên hạn chế tăng vụ, tăng năng suất.

 


- Đất xám:  129.000 ha (3,4 %) bao gồm đất xám bạc màu trên phù sa cổ, đất xám bạc màu glây trên phù sa cổ, đất xám trên sản phẩm phong hóa macma axit. Đất than bùn 24.027 ha (0,6 %). Ngoài ra còn có các loại đất đỏ vàng 2.420 ha.

 


a. Tài nguyên đất trồng ngô

 


Ngô ở vùng này được trồng chủ yếu trên các nhóm đất: Phù sa sông Cửu Long, đất xám bạc màu.
+ Đất phù sa hệ thống sông Cửu Long: Tổng diện tích khoảng 602 nghìn ha, phân bố: Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, An Giang… Đất điển hình có màu nâu (gần giống màu phù sa sông Hồng), thường hơi chua. Đất có chất lượng khá tốt, là loại đất chủ ực sản xuất cây lương thực ở nước ta và rất thích hợp với nhiều loại cây trồng, đặc biệt là lúa và ngô.Cây ngô là cây sử dụng nước hiệu quả hơn so với lúa nên tiết kiệm được nước tưới. Hơn nữa, nhu cầu sử dụng ngô chế biến thức ăn chăn nuôi hiện rất cao. Đồng bằng sông Cửu Long đang trong quá trình chuyển thế độc canh cây lúa sang luân canh lúa-màu.

 


 

 

 


+ Đất xám bạc màu: Tổng diện tích 129 nghìn ha, phân bố ở các tỉnh: Long An, Kiên Giang, An Giang. Đất xám có các loại: Xám bạc màu trên phù sa cổ, xám bạc màu glây trên phù sa cổ và xám bạc màu phát triển trên sản phẩm phong hóa của đá macma axit và đá cát.

+ Đất xám bạc màu trên phù sa cổ: Diện tích khoảng 59 nghìn ha, phân bố ở địa hình cao, chừng 10-15 m. Đất có độ phiêu tự nhiên thấp, có thể trồng ngô với cơ cấu: ngô đông xuân - lúa hè thu; trong vụ ngô có thể tiến hành trồng xen đậu tương với ngô, năng cao thu nhập trên một đơn vị diện tích, góp phần cải tạo đất. Cần chú trọng bón phân cân đối các nguyên tố đa lượng như N, P, K, cần chú ý nguyên tố K và các nguyên tố trung lượng đặc biệt là Mg; tăng cường bón phân hữu cơ; vùi phụ phẩm nông nghiệp của cây trồng vụ trước cho cây trồng vụ sau, giữ ẩm cho đất.

 


-  Đất xám bạc màu trên phù sa cổ có tầng glây: Diện tích khoảng 1.743 ha. Đất có độ phì tự nhiên thấp, so với đất xám bạc màu trên phù sa cổ, đất này có hàm lượng mùn cao hơn, các chất dinh dưỡng cũng khá hơn. Chế độ canh tác điển hình là một vụ lúa-một vụ màu. Đất thích hợp với hoa màu trồng cạn nhiều cây công nghiệp quý, cây ăn quả và đặc biệt là ngô. Trên đất xám bạc màu, chúng ta có thể bố trí trồng ngô trên loại đất này với các cơ cấu: Ngô đông xuân - lúa hè thu; ngô xuân hè - lúa thu. Cần chú trọng bón phân cân đối, tăng cường bón phân hữu cơ, vùi phụ phẩm nông nghiệp của cây trồng vụ trước cho cây trồng vụ sau, giữ ẩm cho đất.

 


- Đất xám bạc màu trên sản phẩm phong hóa của đá macma axit và đá cát: Diện tích khoảng 68 nghìn ha, ở Kiên Giang, An Giang. Đất chua nghèo dinh dưỡng và dễ bị khô hạn. Trên loại đất này nên để phát triển lâm nghiệp.

 


b. Thời vụ

 


Vụ ngô chính của vùng này (vụ xuân hè) từ cuối tháng 4 đầu tháng 5 đến đầu tháng 8. Những năm gần đây để tránh độc canh lúa, cây ngô lai đã được đưa vào vùng này sau 2 vụ lúa đạt hiệu quả kinh tế cao, nên diện tích ngô phát triển nhanh.

 


c. Thuận lợi và khó khăn  

 


Nhiệt độ bình quân luôn luôn cao hơn 20 0C, ánh sáng dồi dào, lượng mưa khá cao phân bố tương đối đều, mùa khô lượng mưa tuy thấp nhưng vẫn có thể trồng ngô đạt năng suất cao nếu có tưới nước bổ sung vào các thời điểm bị hạn.
Vụ đông xuân nằm gọn trong mùa khô, từ tháng 12 trở đi lượng mưa rất ít. Lượng nước thiếu hụt trong thời kỳ này khoảng 100-120 mm/tháng. Nếu giải quyết  được thì năng suất sẽ cao và ổn định do điều kiện khí hậu rất  thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây ngô. Vụ Hè thu thường bị hạn trong tháng 7, 8 và mưa lớn gây nghập lụt kết hợp với lũ sông.

 


 

 

ABC

Ban biên tập

TT

Họ và tên

Cơ quan công tác

1

TS. Nguyễn Văn Vấn

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

2

PGS.TS. Nguyễn Văn Viết

Ban Khoa học & HTQT, Viện KHNNVN

3

TS. Hồ Quang Đức

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

4

TS. Nguyễn Công Vinh

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

5

ThS. Lê Văn Hải

Viện Nghiên cứu Ngô

6

ThS. Nguyễn Hoàng Long

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

7

ThS. Phạm Thị Xuân

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

8

CN. Lê Thị Liên

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

9

CN. Phạm Hồng Hạnh

Viện Bảo vệ thực vật

Ban Thông tin - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Địa chỉ: Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội