Ngan hang kien thuc trong ngo

 

 

Vùng Đông Nam Bộ gồm các tỉnh, thành phố: Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh và Bà Rịa-Vũng Tàu, diện tích tự nhiên khoảng 2,34 triệu ha.

 


a. Tài nguyên đất

 


Trong phạm vi của vùng, hai nhóm đất có diện tích lớn nhất là đất xám chiếm 44 % tổng quỷ đất của vùng, nhóm đất đỏ vàng chiếm 32 % trong đó  đất đỏ bazan chiếm 215 nghìn ha (chiếm 29 %, của nhóm đất đỏ vàng). Các nhóm đất khác như đất cát, đất mặn, đất phèn… chiếm 14 %.

 

 

+ Đất phù sa có diện tích khoảng 131 nghìn ha, phân bố ở các địa phương trong vùng. Đất có chất lượng khá tốt, thích hợp với nhiều loại cây lương thực, cây ăn quả. Trên đất phù sa của vùng này chúng ta có thể bố trí chuyên trồng ngô với cơ cấu: Ngô đông xuân-ngô hè thu hoặc đất 1 vụ lúa 1 vụ màu (ngô), Cần áp dụng các biện pháp: bón cân đối N, P, K; tăng cường hữu cơ…


 

 


+ Nhóm đất xám có tổng diện tích 1.038 nghìn ha, phân bố chủ yếu ở các tỉnh, thành: TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây Ninh và Bình Phước. Đất xám có các loại: Xám bạc màu trên phù sa cổ, xám bạc màu glây trên phù sa cổ và xám bạc màu phát triển trên sản phẩm phong hóa của đá macma axit và đá cát.

 


- Đất xám bạc màu trên phù sa cổ, có diện 873 nghìn ha phân bố ở các tỉnh, thành:TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây Ninh và Bình Phước. Đất xám bạc màu trên phù sa cổ phân bố ở những thềm phù sa cũ cao chừng 15-20 m, địa hình bằng phẳng hoặc bậc thang, quanh năm không nghập nước. Đất có độ phì tự nhiên không cao, nhưng lại có độ phì nhiêu thực tế cao nếu biết áp dụng các tiến bộ kỹ thuật. Đất xám bạc màu trên phù sa cổ rất thích hợp với hoa màu trồng cạn nhiều cây công nghiệp quý, cây ăn quả và đặc biệt là ngô, nhưng phải đầu tư cao mới có hiệu quả.

 


- Đất xám bạc màu glây trên phù sa cổ, có diện 46 nghìn ha,loại đất này có nguồn gốc phát sinh giống loại trên nhưng ở địa hình thấp hơn, thường ngập nước vào mùa mưa. Chế độ canh tác điển hình là một vụ lúa-một vụ màu. Lớp đất mặt thường là thịt nhẹ, màu xanh trắng. Tầng đế cày hơi chặt và bắt đầu có glây. So với đất xám bạc màu trên phù sa cổ, đất này có hàm lượng mùn cao hơn, các dưỡng chất cũng khá hơn. Đất phù hợp với phát triển cây ngô. Cần chú trọng bón phân cân đối các nguyên tố đa lượng như N, P, K, cần chú ý nguyên tố N, K; tăng cường bón phân hữu cơ; phân xanh; vùi phụ phẩm nông nghiệp của cây trồng vụ trước cho cây trồng vụ sau, giữ ẩm cho đất.

 


- Đất xám bạc màu phát triển trên sản phẩm phong hóa của đá macma axit và đá cát: Đất chua, nghèo dinh dưỡng và dễ bị khô hạn. Ngoại trừ một ít đất có thể dùng cho sản xuất nông nghiệp ở vùng thềm thấp, còn ở địa hình cao hơn nên để phát triển lâm nghiệp.

 

+ Đất đen nhiệt đới có diện tích là 49 nghìn ha, phân bố chủ yếu ở tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu. Đất có chất lượng khá tốt, thích hợp cho những loại cây: ngô, đậu đỗ, mía và các loại cây ăn quả, Chú ý sử dụng các loại phân bón phù hợp trong môi trường trung tính và kiềm giàu Ca++, Mg++.
Bên cạnh đó ngô được trồng trên nhóm đất đỏ vàng có tổng diện tích khoảng 745 nghìn ha, bao gồm các loại đất: Đất nâu tím trên đá macma bazơ và trung tính, đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính, đất nâu vàng trên đá macma bazơ và trung tính, đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất, đất vàng đỏ trên đá macma axit, đất vàng nhạt trên đá cát và đất nâu vàng trên phù sa cổ.

 

 

- Đất nâu tím trên đá macma bazơ và trung tính, có diện tích khoảng 831 ha, phân bố chủ yếu ở Đồng Nai. Đất có độ phì nhiêu cao, ít chua và được phân bố ở địa hình thấp nên độ ẩm thường cao hơn đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính. Do đó, đất rất phù hợp với nhiều loại cây trồng, trong đó có cây ngô.

 

 

- Đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính được phân bố ở Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Phước. Đât có diện tích khoảng 215 nghìn ha. Phần lớn đất đã được đưa vào sử dụng để trồng cây công nghiệp hoặc trồng cây lương thực. Độ dốc phổ biến từ 3-150. Đất có tầng rất dày, phẫu diện khá đồng nhất, thành phần cơ giới nặng. Lượng nước hút ẩm khá cao, độ ẩm cây héo đối với ngô lớn. Độ ẩm hữu hiệu khá cao, song về mùa khô nhiều trường hợp độ ẩm của tầng mặt xuống dưới độ ẩm cây héo. Đất rất thích hợp cho cây công nghiệp, cây lương thực. Trong đó rất phù hợp với cây ngô, tuy nhiên cần chú trọng các biện pháp: chống xói mòn; che phủ, giữ ẩm đất vào mùa khô; làm đất tối thiểu để bảo vệ kết cấu đất và bón phân cân đối N, P, K; cần chú ý P và K trong tỷ lệ cân đối.

 

- Đât nâu vàng trên đá macma bazơ và trung tính có diện tích khoảng 152 nghìn ha, phân bố ở Đồng Nai, Bình Phước, Bà Rịa-Vũng Tàu. Đất nâu vàng cũng có đầy đủ những tính chất tốt như đất nâu đỏ, lại thêm đặc tính ẩm hơn và nằm trong vùng khí hậu ẩm hơn, rất thích hợp cho bố trí cây ngô trên loại đất này.

 

- Đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất có diện tích khoảng  109 nghìn ha, phân bố Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương. Đất có độ dày trung bình, chua, nghèo lân tổng số và dễ tiêu đều nghèo. Đất có độ phì thấp, dễ bị thoái hóa.

 

- Đất vàng đỏ trên đá trên đá macma axit, có diện tích khoảng 53 nghìn ha, phân bố Đồng Nai, Bình Phước, Bà Rịa-Vũng Tàu. Do địa hình dốc và nằm trên đá mẹ axit nên tầng đất mỏng, thành phần cơ giới nhẹ, do bị rữa trôi nên tầng mặt nhẹ hơn tầng sâu. Đất chua, nghèo các chất dinh dưỡng. Đất dễ bị thoái hóa, trên loại đất này nên sử dụng vào mục đích lâm nghiệp.

- Đất vàng nhạt trên đá cát có diện tích khoảng 7.618 ha, phân bố ở Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây Ninh. Đất có tầng mỏng, thành phần cơ giới cát pha đến cát bị rữa trôi mạnh, chua nghèo mùn và các chất dinh dưỡng cả tổng số lẫn dễ tiêu. Đây là loại đất rất xấu phân bố ở địa hình dốc, dễ bị xói mòn, nên phát triển lâm nghiệp trên loại đất này.

 

- Đất nâu vàng trên phù sa cổ có diện tích khoảng 207 nghìn ha,  phân bố ở các tỉnh: Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng, Tàu Tây Ninh và Bình Phước. Đất có tầng mỏng nhưng thuận lợi cho sản xuất cây hàng năm, đất bằng, hơi xốp, đất chua, độ bão hòa bazơ thấp. Hàm lượng mùn từ nghèo đến rất nghèo, đạm tổng số trung bình, lân tổng số và dễ tiêu đều nghèo. Thích hợp cho trồng ngô, cần chú trọng bón phân cân đối, tăng cường bón phân hữu cơ, sử dụng phụ phẩm nông nghiệp vụ trước vùi lại cho vụ sau…

 

b. Thời vụ
Vùng này thường trồng 2 vụ ngô (Xuân hè và Hè thu) liên tiếp trong mùa mưa từ cuối tháng 4 đến tháng 11, trong đó vụ thứ nhất (xuân hè) từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 8 đạt năng suất cao nhất, vụ thứ 2 (hè thu) từ trung tuần tháng 8 đến đầu tháng 12 trồng bằng các giống ngô ngắn ngày. Ngoài ra trên các chân đất đảm bảo nước tưới thì có thể trồng thêm 1 vụ ngô Đông Xuân từ tháng 12 đến tháng 3 đạt năng suất khá cao.

 

c. Thuận lợi và khó khăn
Vùng có điều kiện khí hậu thuận lợi cho trồng ngô, lượng mưa 1500-2000mm/năm, nhiệt độ trung bình 23-24oC và ít khi xuống dưới 200C, số giờ nắng nhiều.
Vụ đông xuân nằm gọn trong mùa khô, từ tháng 12 trở đi lượng mưa rất ít. Lượng nước thiếu hụt trong thời kỳ này khoảng 100-120 mm/tháng. Nếu giải quyết  được thì năng suất sẽ cao và ổn định do điều kiện khí hậu rất  thuận lợi cho sưh sinh trưởng và phát triển của cây ngô.

 

ABC

Ban biên tập

TT

Họ và tên

Cơ quan công tác

1

TS. Nguyễn Văn Vấn

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

2

PGS.TS. Nguyễn Văn Viết

Ban Khoa học & HTQT, Viện KHNNVN

3

TS. Hồ Quang Đức

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

4

TS. Nguyễn Công Vinh

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

5

ThS. Lê Văn Hải

Viện Nghiên cứu Ngô

6

ThS. Nguyễn Hoàng Long

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

7

ThS. Phạm Thị Xuân

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

8

CN. Lê Thị Liên

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

9

CN. Phạm Hồng Hạnh

Viện Bảo vệ thực vật

Ban Thông tin - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Địa chỉ: Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội