Ngan hang kien thuc trong ngo

 

 

Gồm các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La và Hòa Bình.
Diện tích vùng Tây Bắc là 3,6 triệu ha, địa hình phân bố theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, giới hạn bởi dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Pulasan - Pudendinh, Pusamsao dọc theo biên giới Lào Việt. Địa hình nói chung cao trên 500 m. Vùng có độ cao trung bình 800-1.000 m, có xu hướng nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam.
Tài nguyên đất của vùng này đa dạng và phức tạp. Phổ biến là các nhóm đất đỏ vàng, mùn đỏ vàng trên núi và đất mùn trên núi cao. Đất ở địa hình bằng phẳng, thoải là đất phù sa, đất đen, đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính, đất đỏ nâu trên đá vôi. Đất Tây Bắc ở độ cao 300-700 m phổ biến là đất đỏ vàng trên núi, ở 700-900 m trở lên là đất mùn vàng đỏ trên núi và ở trên 2.000 m trên 2.000 m là đất mùn trên núi cao. Nói chung chua, nghèo dễ tiêu, tầng đất trung bình đến mỏng, Vùng cao nguyên đá vôi, vùng núi Điện Biên vùng núi Pudenđinh có tầng tương đối dày. Các loại đất đen trên đá vôi, đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính đất đỏ nâu trên đá vôi khác có cấu trúc tơi xốp và thoáng khí. Có thể phân chia vùng núi và cao nguyên Tây Bắc thành một số kiểu địa mạo thổ nhưỡng như sau:
- Núi cao (> 2.000 m) các loại đất phát triển chủ yếu là đất mùn trên núi.
- Núi trung bình (1.000-2.000 m) các loại đất chính là đất mùn đỏ vàng trên núi, đất mùn trên núi.
- Núi thấp (< 1.000 m) đất phổ biến ở dạng địa hình này là nhóm đất đỏ vàng phát triển trên đá sét và cát.
- Cao nguyên đá vôi Maluthang - Tà Phìn - Xin Chải có độ cao từ 1.000-1.700 m và cao nguyên castơ Sơn La - Mộc Châu có độ cao thay đổi từ 1.000-1.300 m, ở Mộc Châu xuống 700-800 m. Đất phát triển trên các vùng cao nguyên đá vôi chủ yếu là đất đỏ vàng, đất đỏ nâu và đất mùn vàng trên núi.
- Thung lũng và trũng giữa núi ở lòng chảo Điện Biên, Phù Yên và thung lũng sông Đà. Phần lớn các vùng trũng có chiều dài từ 10-15 km, với độ cao tuyệt đối 100-250 m. Ở đây xuất hiện các loại đất phù sa, đất thung lũng và một số loại đất đỏ vàng đồi thấp.

a. Đất trồng ngô

Ngô vùng này chủ yếu được trồng trên nhóm: Đất phù sa, đất đen nhiệt đới và đất đỏ vàng.
+ Đất phù sa sông suối với diện tích 78 nghìn ha, phân bố chủ yếu ở Điện Biên, Hòa Bình và Sơn La. Đất rất thích hợp cho sản xuất lúa và ngô…Chúng ta, sẽ phát triển diện tích ngô trên đất này bằng cách tăng cường sản xuất vụ ngô với các cơ cấu: Lúa xuân-lúa mùa-ngô đông, ngô xuân-lúa mùa-ngô đông hoặc ngô xuân-ngô hè thu; có thể chuyển diện tích đất ruộng thiếu nước vụ xuân sang trồng vụ ngô Xuân. Chú trọng bón cân đối các nguyên tố N, P, K cần chú ý nguyên tố K.

 

+ Đất đen nhiệt đới khoảng 8,6 nghìn ha, tập trung ở tỉnh Sơn La. Đất thường được phân bố ở những địa hình khá bằng phẳng. Đất có chất lượng khá tốt, thích hợp cho việc phát triển cây ngô trên loại đất này.
+ Nhóm đất đỏ vàng với diện tích lớn nhất 1.323 nghìn ha, với các loại đất: Đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính, đất đỏ nâu trên đá vôi, đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất, đất vàng đỏ trên đá macma axit, đất vàng nhạt trên đá cát và đất nâu vàng trên phù sa cổ.

 

- Đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính, có diện tích khoảng 198 nghìn ha, phân bố tập trung ở các tỉnh: Sơn La, Hòa Bình và Điện Biên. Đất có có chất lượng khá tốt: hàm lượng mùn, đạm, lân tổng số khá cao, thành phần cấp hạt nặng (sét), Song, lượng nước hút ẩm của đất khá cao, độ ẩm cây héo đối với ngô lớn. Độ ẩm hữu hiệu khá cao, mùa khô nhiều trường hợp độ ẩm của tầng mặt xuống dưới độ ẩm cây héo. Đất rất thích hợp cho cây ngô, tuy nhiên cần chú trọng: chống xói mòn; che phủ, giữ ẩm đất vào mùa khô; làm đất tối thiểu để bảo vệ kết cấu đất và bón phân cân đối N, P, K; cần chú ý P và K trong tỷ lệ cân đối.


 

 

- Đất đỏ nâu trên đá vôi có diện tích khoảng 153 nghìn ha, phân bố chủ yếu ở các tỉnh Sơn La và Điện Biên, đất có các chất dinh dưỡng khá, thành phần cấp hạt từ trung bình đến nặng, đất xốp, song tốc độ thấm nước mạnh. Trong điều kiện khô hạn ở tầng mặt thường thiếu ẩm nghiêm trọng. Đất thích hợp với nhiều loại cây trồng (cây công nghiệp và cây lương thực) đặc biệt là ngô. Khi sử dụng loại đất này cần chú ý các biện pháp giữ ẩm và chống xói mòn.

 

- Đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất có diện tích khoảng 1,167 nghìn ha, phân bố chủ yếu ở các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu: đất có độ dầy trung bình, kém tơi xốp hơn đất đỏ bazan, đất chua pH 4-4,5, thường có thành phần cơ giới nặng, lân tổng số và dễ tiêu đều nghèo. Đất khá phù hợp với cây ngô, cần chú ý đến bón phân cân đối đặc biệt là lân, nâng cao hàm lượng hữu cơ bằng các biện pháp như: che tủ gốc bằng tàn dư thực vật, vùi phụ phẩm  nông nghiệp (thân lá ngô vụ trước vùi cho vụ sau) và chống xói mòn rửa trôi.

 

- Đất vàng đỏ trên trên đá macma axit có diện tích khoảng 219 nghìn ha, phân bố chủ yếu ở các tỉnh như Sơn La và Lai Châu. Do địa hình dốc và nằm trên đá mẹ axit nên tầng đất mỏng. Đất có chất lượng kém, dễ bị thoái hóa. Phát triển diện tích cây lương thực ở những nơi địa hình phù hợp (có độ dốc < 250, nếu đất có độ dốc >200 cần tạo các tiểu bậc thang trước khi trồng ngô, che phủ bằng vật liệu hữu cơ), chú trọng các biện pháp chống xói mòn, bón phân cân đối và giữ ẩm cho đất; Diện tích còn lại nên phát triển lâm nghiệp.

 

- Đất vàng nhạt trên đá cát có diện tích khoảng 732 nghìn ha, phân bố chủ yếu ở các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu và Hòa Bình. Đất có tầng mỏng. Đây là loại đất rất xấu lại phân bố trên địa hình dốc và rất khô hạn, thường bị xói mòn mạnh. Nên phát triển cây lâm nghiệp trên loại đất này. Ở các địa phương quỹ đất hạn chế có thể trồng ngô trên loại đất ở những nơi địa hình thích hợp (có độ dốc < 250, nếu đất có độ dốc >200 cần tạo các tiểu bậc thang trước khi trồng ngô và che phủ bằng vật liệu hữu cơ), cần chú ý đến thâm canh cây ngô, sử dụng các biện pháp canh tác phù hợp, làm sao vừa tăng hàm lượng hữu cơ cho đất, chống xói mòn, giữ ẩm.
Vùng Tây Bắc có tốc độ tăng rất nhanh diện tích sản xuất ngô, trong vòng 5 năm qua (2003-2008) diện tích ngô toàn vùng tăng khoảng 68 nghìn ha (52%). Người dân đã tiến hành trồng ngô trên một số diện tích của nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi. Đất có diện tích khoảng 1.154 nghìn ha, phân bố ở tất cả các địa phương trong vùng, tập trung chủ yếu ở Sơn La, Điện Biên và Lai Châu. Loại đất này nằm ở vùng núi trung bình từ độ cao 700-900 m đến 2000 m so với mực nước biển. Khí hậu lạnh và ẩm hơn vùng đồi núi thấp.


 

 

Do ở địa hình cao, dốc nên đất thường bị xói mòn mạnh. Đất có phản ứng chua vừa đến chua ít; hàm lượng mùn cao; lân và kali tổng số và dễ tiêu từ nghèo đến trung bình. Đất mùn vàng đỏ trên núi thích hợp cho việc sử dụng theo phương thức nông lâm kết hợp; có thể phát triển cây dược liệu và cây ăn quả ôn đới. Đối với cây ngô, nên hạn chế mở rộng diện tích trên nhóm đất này. Ở những diện tích đã và đang sẽ trồng ngô cần chú trọng các biện pháp kỹ thuật: Chống xói mòn, bón phân cân đối đặc biệt chú ý đến nguyên tố P, K…

 

b. Thời vụ gieo trồng ngô

 

Mùa mưa vùng này bắt đầu từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 5 và thời vụ trồng ngô vụ hè thu cũng từ cuối tháng 4 đầu tháng 5 và thu hoạch tháng 8, nếu gieo sớm hơn khi đất còn khô thì ngô không mọc được, nếu gieo muộn hơn vào tháng 6 thì đất ướt dính, rất khó làm đất. Những nơi đất đủ ẩm có thể tranh thủ gieo sớm vào tháng 3 làm vụ Xuân-Hè đến đầu tháng 4 để cuối tháng 7 đầu tháng 8 thu hoạch rồi trồng tiếp ngô Thu Đông.

 

Phương thức trồng xen cây họ đậu vào ngô khá phổ biến ở trong vùng, vừa thu được sản phẩm vừa có tác dụng che phủ chống xói mòn và cỏ dại, giữ ẩm và tăng cường chất hữu cơ cho tầng canh tác.

 

c. Các hạn chế chính

 

- Thiếu nước trong mùa khô
- Gió Tây khô nóng
- Tố lốc, mưa đá
- Rửa trôi và xói mòn mạnh
- Động đất.

 

ABC

Ban biên tập

TT

Họ và tên

Cơ quan công tác

1

TS. Nguyễn Văn Vấn

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

2

PGS.TS. Nguyễn Văn Viết

Ban Khoa học & HTQT, Viện KHNNVN

3

TS. Hồ Quang Đức

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

4

TS. Nguyễn Công Vinh

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

5

ThS. Lê Văn Hải

Viện Nghiên cứu Ngô

6

ThS. Nguyễn Hoàng Long

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

7

ThS. Phạm Thị Xuân

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

8

CN. Lê Thị Liên

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

9

CN. Phạm Hồng Hạnh

Viện Bảo vệ thực vật

Ban Thông tin - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Địa chỉ: Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội