Ngan hang kien thuc trong ngo

 

 

Vùng Tây Nguyên gồm các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc, Đắc Nông và Lâm Đồng, diện tích tự nhiên hơn 5,5 triệu ha. Đây là vùng núi và cao nguyên có độ cao trung bình từ 500-800 m. Phía đông Bắc khối núi Kon Tum với những đỉnh vượt 2.000 m. Ở phần giữa là cao nguyên Lang Biang cao 1.500 m và cao nguyên Di Linh 800-1.000 m.


 

Vùng Tây Nguyên hầu hết là đất đỏ bazan có độ cao trung bình 500-600 m, xen kẽ là những đồi sa diệp thạch và granit lác đác có cả đá vôi. Bề mặt cao nguyên nằm cao trên các thung lũng từ 30-100 m, dốc từ 2-100, cao nguyên thoải dần về phía Tây Nam xuống tới độ cao 300 m xuôi theo các thung lũng sông Sê San và Serepok.
Cao nguyên Đắc Lắc thấp hơn cao nguyên Gia Lai, cao trung bình 400-500 m (Buôn Ma Thuột 461 m). Đất đá ở đây phức tạp hơn ở Gia Lai, tỷ lệ các đá không phải Bazan chiếm ½ diện tích (sa thạch, diệp thạch, granit, gabro và phù sa thung lũng, đất đầm lầy than bùn).
Ở phía Nam của vùng, các cao nguyên Di Linh, Bảo Lộc, loại đất chiếm diện tích lớn nhất là đất đỏ feralit nâu từ đá bazan, dày 10-12 m, đất đen, đất xám bạc màu, đất feralit đỏ vàng trên đá trầm tích và đất phù sa sông suối.

a. Tài nguyên đất
Ngô được trồng trên các nhóm đất: Đất phù sa, xám bạc màu, đen nhiệt đới và đất đỏ vàng.

- Đất phù sa có diện tích khoảng 161 nghìn ha, phân bố lẻ tẻ ở tất cả các tỉnh trong vùng. Đất có chất lượng khá tốt, rất thuận lợi cho sinh trưởng phát triển của ngô.


 

- Trong nhóm đất xám bạc màu chỉ có loại đất xám bạc màu trên phù sa cổ có diện tích khoảng 113 nghìn ha, ở các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng, phân bố ở địa hình cao. Đất có độ phiêu tự nhiên thấp, tuy có nhiều nhược điểm nhưng đất xám bạc màu vẫn là loại đất quý vì: có địa hình bằng phẳng không bị úng, đất thoát nước tốt, đở tốn công làm đất, có nguồn nước ngầm tốt lại ở nông nên có thể khai thác để tưới. Chúng ta có thể bố trí trồng ngô trên loại đất này. Cần chú trọng bón phân cân đối các nguyên tố đa lượng như N, P, K, cần chú ý nguyên tố N, K; tăng cường bón phân hữu cơ; phân xanh; vùi phụ phẩm nông nghiệp của cây trồng vụ trước cho cây trồng vụ sau, giữ ẩm cho đất.

 

 

- Đất đen nhiệt đới khoảng 103 nghìn ha. Nhóm đất này thường được phân bố ở những địa hình khá bằng phẳng, thích hợp cho những loại cây: Lúa, đậu đỗ, ngô, mía, các loại cây ăn quả. Nhóm đất này thích hợp cho việc phát triển diện tích ngô với các cơ cấu: ngô hè thu - ngô thu đông, phân bón hạn chế dùng K.
Bên cạnh đó ngô được trồng trên nhóm đất đỏ vàng có tổng diện tích khoảng 3.463 nghìn ha, bao gồm các loại đất: Đất nâu tím trên đá macma bazơ và trung tính, đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính, đất nâu vàng trên đá macma bazơ và trung tính, đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất, đất vàng đỏ trên đá macma axit, đất vàng nhạt trên đá cát và đất nâu vàng trên phù sa cổ.

 


- Đất nâu tím trên đá macma bazơ và trung tính, có diện tích khoảng 83 nghìn ha, phân bố chủ yếu ở Kon Tum và Gia Lai. Đất có độ phì nhiêu cao, ít chua và được phân bố ở địa hình thấp nên độ ẩm thường cao hơn đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính. Do đó đất rất phù hợp với nhiều loại cây trồng, trong đó có cây ngô.

 


- Đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính được phân bố ở tất cả các tỉnh trong vùng. Đất có diện tích khoảng 1.359 nghìn ha. Phần lớn đất đã được đưa vào sử dụng để trồng cây công nghiệp hoặc trồng cây lương thực. Độ dốc phổ biến từ 3-150. Đất có tầng rất dày, phẫu diện khá đồng nhất, thành phần cơ giới nặng. Lượng nước hút ẩm khá cao, độ ẩm cây héo đối với ngô lớn. Độ ẩm hữu hiệu khá cao, song về mùa khô nhiều trường hợp độ ẩm của tầng mặt xuống dưới độ ẩm cây héo. Đất rất thích hợp cho cây công nghiệp, cây lương thực. Trong đó rất phù hợp với cây ngô, tuy nhiên cần chú trọng các biện pháp: chống xói mòn; che phủ, giữ ẩm đất vào mùa khô; làm đất tối thiểu để bảo vệ kết cấu đất và bón phân cân đối N, P, K; cần chú ý P và K trong tỷ lệ cân đối.

 


-  Đât nâu vàng trên đá macma bazơ và trung tính có diện tích khoảng 342 nghìn ha, phân bố ở Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng. Đất nâu vàng cũng có đầy đủ những tính chất tốt như đất nâu đỏ, lại thêm đặc tính ẩm hơn và nằm trong vùng khí hậu ẩm hơn, rất thích hợp cho bố trí cây ngô trên loại đất này.

 


- Đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất có diện tích khoảng  773 nghìn ha, phân bố hầu hết các tỉnh trong vùng. Đất có độ dày trung bình, chua, nghèo lân tổng số và dễ tiêu đều nghèo. Đất có độ phì thấp, dễ bị thoái hóa, nên sử dụng vào mục đích lâm nghiệp là chính; Phát triển ngô trên những vùng có địa hình phù hợp (có độ dốc < 250, nếu đất có độ dốc >200 cần tạo các tiểu bậc thang trước khi trồng ngô, sử dụng vật liệu hữu cơ để che phủ) chú trọng các biện pháp chống xói mòn, bón phân cân đối, tăng cường sử dụng vật liệu hữu cơ để che phủ và giữ ẩm cho đất.

 


- Đất vàng đỏ trên đá trên đá macma axit, có diện tích khoảng 797 nghìn ha, phân bố rãi rác ở tất cả các tỉnh trong vùng. Do địa hình dốc và nằm trên đá mẹ axit nên tầng đất mỏng, thành phần cơ giới nhẹ, do bị rữa trôi nên tầng mặt nhẹ hơn tầng sâu. Đất chua, nghèo các chất dinh dưỡng, Đất dễ bị thoái hóa, trên loại đất này nên sử dụng vào mục đích lâm nghiệp.

 


- Đất vàng nhạt trên đá cát
có diện tích khoảng 65 nghìn ha, phân bố ở Đắc Lắc. Đất có tầng mỏng, thành phần cơ giới cát pha đến cát bị rữa trôi mạnh, chua nghèo mùn và các chất dinh dưỡng cả tổng số lẫn dễ tiêu. Đây là loại đất rất xấu phân bố ở địa hình dốc, dễ bị xói mòn, nên phát triển lâm nghiệp trên loại đất này.

 


- Đất nâu vàng trên phù sa cổ có diện tích khoảng 43 nghìn ha,  phân bố ở các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai. Đất có tầng mỏng nhưng thuận lợi cho sản xuất cây hàng năm, đất bằng, hơi xốp, đất chua, độ bão hòa bazơ thấp. Hàm lượng mùn từ nghèo đến rất nghèo, đạm tổng số trung bình, lân tổng số và dễ tiêu đều nghèo. Thích hợp cho trồng ngô, cần chú trọng bón phân cân đối, tăng cường bón phân hữu cơ, sử dụng phụ phẩm nông nghiệp vụ trước vùi lại cho vụ sau…

 

b. Thời vụ

Nhìn chung vùng này thường trồng một vụ ngô chính vào mùa mưa từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 5 (vụ xuân hè) bằng giống dài ngày năng suất cao, Ngoài ra có thể trồng vụ 2 từ giữa tháng 8 (hè thu).

c. Hạn chế chính

 

- Thiếu nước trong mùa khô

 

- Đất bị rửa trôi xói mòn.

 

 

 

 

 

 

 

 

ABC

Ban biên tập

TT

Họ và tên

Cơ quan công tác

1

TS. Nguyễn Văn Vấn

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

2

PGS.TS. Nguyễn Văn Viết

Ban Khoa học & HTQT, Viện KHNNVN

3

TS. Hồ Quang Đức

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

4

TS. Nguyễn Công Vinh

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

5

ThS. Lê Văn Hải

Viện Nghiên cứu Ngô

6

ThS. Nguyễn Hoàng Long

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

7

ThS. Phạm Thị Xuân

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

8

CN. Lê Thị Liên

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

9

CN. Phạm Hồng Hạnh

Viện Bảo vệ thực vật

Ban Thông tin - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Địa chỉ: Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội