Ngan hang kien thuc trong ngo

 

 

Vùng ngô Việt Bắc và Đông Bắc Bắc bộ theo tính chất đất đai được chia làm 02 vùng nhỏ là Vùng Đông bắc và Vùng Việt Bắc-Hoàng Liên Sơn

2.1. Vùng ngô Đông Bắc

Vùng ngô Đông Bắc gồm các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Giang, Bắc Kạn và Thái Nguyên.
Vùng Đông Bắc có diện tích tự nhiên xấp xỉ 3,4 triệu ha. Địa hình của vùng có xu thế thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam với độ cao trung bình 400-500m, vùng đồi Duyên hải giáp với vùng đồng bằng, địa hình chủ yếu là dốc thoai thoải, các bậc thềm ở độ cao từ 200m đến vài mét, thấp nhất ở ven biển Móng Cái có độ cao nhỏ hơn 1m. Đặc điểm khá nổi bật của vùng Đông Bắc là sự sắp xếp các khối núi theo các cánh đồng nằm xen với các thung lũng hoặc trủng kiến tạo lấp đầy trầm tích neogen như ở Cao Bằng, Thất Khê, Lộc Bình…                             
                           

a. Đất trồng ngô

Tài nguyên đất của vùng có nhiều nhóm đất khác nhau, nhưng diện tích trồng ngô chủ yếu thuộc nhóm đất phù sa, xám bạc màu và đất đỏ vàng.
+ Đất phù sa: Được hình thành do sản phẩm bồi tụ dọc các con sông, suối, được phân bố chủ yếu tại Quảng Ninh, Bắc Giang và Thái Nguyên. Đất có diện tích khoảng 28 nghìn ha. Đất rất thích hợp cho sản xuất lúa và ngô….Chúng ta mở rộng diện tích ngô trên đất này bằng cách tăng cường sản xuất vụ ngô đông trên đất 2 lúa hoặc có thể chuyển diện tích đất ruộng thiếu nước vụ xuân sang trồng vụ ngô Xuân. Chú trọng bón cân đối các nguyên tố N, P, K cần chú ý nguyên tố K.

 

+ Nhóm đất xám bạc màu:  Nhóm đất xám bạc màucủa vùng Đông Bắc, chỉ có duy nhất một loại đó là đất xám glây trên phù sa cổ, có diện tích khoảng 88 nghìn ha, phân bố chủ yếu ở các tỉnh: Bắc Giang, Thái Nguyên, Quảng Ninh. Đất lại thường xuyên bị tác động của quá trình rửa trôi xói mòn theo chiều sâu và bề mặt. Những đặc điểm chủ yếu nêu trên phần nào nói lên mặt hạn chế của đất xám bạc màu, nhưng nó cũng có không ít những điều kiện thuận lợi như: địa hình dốc thoải nên việc tiêu nước khá thuận tiện, đất có  thành  phần  cơ  giới  nhẹ  nên  làm  đất trồng màu cũng dễ dàng nhanh chóng. Đối tượng cây trồng đặc biệt là cây trồng cạn: hoa màu lương thực, cây công nghiệp và cây xuất khẩu, rất đa dạng và phong phú. Trong thời gian qua diện tích cây ngô không ngừng được mở rộng trên diện tích đất xám bạc màu. Tuy nhiên, trồng ngô trên loại đất này cần chú trọng đến các biện pháp kỹ thuật như: tưới tiêu hợp lý; bón nhiều phân hữu cơ, phân xanh, vùi phụ phẩm của nông nghiệp (rơm rạ, thân lá ngô đậu đỗ… ), kết hợp bón vôi; bón phân cân đối chú trọng phân lân và kali; giữ ẩm cho đất.
 + Nhóm đất đỏ vàng (Đất Feralit): Nhóm đất này của vùng Đông Bắc có diện tích khoảng 3.222 nghìn ha, bao gồm các loại: Đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính; đất đỏ nâu trên đá vôi; đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất; đất vàng đỏ trên đá trên đá macma axit; đất vàng nhạt trên đá cát và đất nâu vàng trên phù sa cổ.
- Đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính, có diện tích khoảng 80 nghìn ha phân bố ở Lạng Sơn, Thái Nguyên…. Đất nâu đỏ có tầng đất rất dày gần như đồng nhất từ trên xuống dưới. Đất có chất lượng khá tốt, tuy nhiên, lượng nước hút ẩm khá cao, độ ẩm cây héo đối với ngô lớn. Độ ẩm hữu hiệu khá cao, song về mùa khô nhiều trường hợp độ ẩm của tầng mặt xuống dưới độ ẩm cây héo. Đất rất thích hợp cho cây ngô, tuy nhiên cần chú trọng: chống xói mòn; che phủ, giữ ẩm đất vào mùa khô; làm đất tối thiểu để bảo vệ kết cấu đất và bón phân cân đối N, P, K; cần chú ý P và K trong tỷ lệ cân đối.
- Đất đỏ nâu trên đá vôi, có tổng diện tích khoảng 51 nghìn ha, phân bố tập trung ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn… Đất đỏ nâu trên đá vôi có các chất dinh dưỡng khá, thành phần cấp hạt từ trung bình đến nặng, đất xốp, song tốc độ thấm nước mạnh. Trong điều kiện khô hạn ở tầng mặt thường thiếu ẩm nghiêm trọng. Đất thích hợp với nhiều loại cây lương thực và cây công nghiệp trong đó có cây ngô. Khi sử dụng chúng ta cần chú ý nhất là giữ ẩm cho đất và chống xói mòn.
- Đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất, có diện tích 2.069 nghìnha, phân bốở tất cả các tỉnh trong vùng. Đất có chất lượng trung bình, trên đất này người dân đã trồng khá nhiều loại cây dài ngày như chè, sở, sơn.. và các cây ngắn ngày như ngô, dứa, sắn, mía…
- Đất vàng đỏ trên đá macma axit, có diện tích khoảng 325 nghìn ha, phân bố xen kẽ với các loại đất đồi núi khác. Do địa hình dốc và nằm trên đá mẹ axit nên tầng đất mỏng, độ dày thường dưới 1m. Đất có chất lượng thấp, dễ bị thoái hóa. Cần bố trí cây ngô ở những vùng có địa hình thích hợp (có độ dốc < 250, nếu đất có độ dốc >200 cần tạo các tiểu bậc thang trước khi trồng ngô và che phủ bằng các vật liệu hữu cơ) chú trọng các biện pháp chống xói mòn, bón phân cân đối và giữ ẩm cho đất.
- Đất vàng nhạt trên đá cát, có diện tích khoảng 676 nghìn ha, phân bố ở tất cả các tỉnh trong vùng. Đất vàng nhạt trên đá cát, dăm kết, cuội kết; thường có tầng mỏng. Đất rửa trôi mạnh nên chua; nghèo mùn và các chất dinh dưỡng kể cả tổng số và dễ tiêu. Đất rất khô hạn, thường bị xói mòn mạnh. Đây là loại đất rất xấu lại phân bố trên địa hình dốc, dễ bị xói mòn. Cần ưu tiên sử dụng vào mục đích trồng rừng. Nếu phát triển cây lương thực trên loại đất này cần phải bố trí ở vùng có địa hình thích hợp (có độ dốc < 250, nếu đất có độ dốc >200 cần tạo các tiểu bậc thang trước khi trồng ngô và che phủ bằng các vật liệu hữu cơ) chú trọng bón đầy đủ và cân đối các nguyên tố đa lượng, có biện pháp chống xói mòn và giữ ẩm cho cây trồng phát triển tốt.
b. Thời vụ
Vụ ngô chính của vùng này thường gieo từ hạ tuần tháng 4 đến đầu tháng 5, thu hoạch vào cuối tháng 8 đến đầu tháng 9. Đối với vùng núi thấp phải tranh thủ trời ấm để gieo sớm hơn vào cuối tháng 3 hoặc đầu tháng 4. Ngoài ra, có thể trồng ngô Hè Thu trên đất cao dễ thoát nước và ngô Thu Đông (gieo vào cuối tháng 8 đến đầu tháng 9) trên đất bãi sông, ngô ngắn ngày trên đất bỏ hóa vụ xuân.
c. Những hạn chế chính
Mùa đông khắc nghiệt, khô hạn sương muối,  giá rét. Vùng ven biển  hay chịu ảnh hưởng của bảo nước dâng. Khó khăn lớn nhất hạn chế sản xuất và tăng vụ ngô là nhiệt độ thấp, mùa đông đến sớm từ tháng 11 và kéo dài đến giữa tháng 4, nhiệt độ của vùng núi cao nhiều khi xuống 5-7 0C, nhiều địa phương có sương muối, thậm chí có tuyết và băng giá làm chết hoặc hư hại nặng hàng loạt cây trồng.
2.2. Vùng ngô Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn
Vùng ngô Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn gồm các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ và Vĩnh Phúc.
Đường ranh giới của vùng Đông Bắc là dải Ngân Sơn, Cốc Xo đến khối Tam Đảo và với vùng Tây Bắc là dải Hoàng Liên Sơn. Diện tích toàn vùng 3,3 triệu ha. Đặc điểm của vùng này là địa hình thấp dần từ biên  giới Việt Trung về đồng bằng. Khu vực cao trên 1000m bao gồm các dãy Hoàng Liên Sơn, sơn nguyên Bắc Hà, Si Ma Cai, Mường Khương, núi Vòm, sông Chảy, cao nguyên đá vôi Quản Bạ, Đồng Văn, dãy Putaka, Phiabioc, trung lưu sông Gâm. Đá vôi phát triển bề mặt sơn nguyên nhấp nhô dạng sườn thoải, Khu Hoàng Liên Sơn núi cao đồ sộ, các đèo cao trên 2000m và một số cao trên 3000m. Vòm sông Chảy là khối granit lớn và cổ đỉnh Tây Côn Lĩnh (2481m) và Kiêu Liêu Ti (2403m).
Vùng đồi nằm ở hạ du các thung lũng lớn. Giữa các đồi có các cánh đồng rộng, có chổ là đệ tam cũ, có chổ là thung lũng bồi tụ. Khu vực cao từ 300m trở xuống có địa hình đồi núi thấp thoải, các bán bình nguyên cổ phẵng, các thềm sông và bãi bồi đất phì nhiêu. Sườn Tây Hoàng Liên Sơn hẹp dốc đứng xuống sông Đà, sườn đông thấp dần theo nhiều bậc về phía sông Hồng với các bề mặt 1300-1700m, 1700-1800m phát triển quanh Sa Pa.
a. Đất trồng ngô
Tài nguyên đất của vùng có nhiều nhóm đất khác nhau, nhưng diện tích trồng ngô chủ yếu thuộc nhóm đất phù sa, xám bạc màu, đất đen nhiệt đới và đất đỏ vàng.
+ Nhóm đất phù sa có diện tích khoảng 77 nghìn ha, phân bố chủ yếu ở các tỉnh: Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang và Yên Bái. Nhóm đất này có độ phì tự nhiên cao rất thích hợp với nhiều loại cây trồng: Lúa, Ngô, đậu đỗ, các loại rau, khoai. Phát triển diện tích cây ngô trên nhóm đất này chủ yếu bằng cách tăng diện tích ngô đông, hoặc ở các diện tích thiếu nước tưới trong vụ xuân chúng ta cần bố trí chuyển đổi sang trồng ngô.
Ngoài ra trong vùng còn phải kể đến một diện tích trồng ngô đạt năng suất khá cao đó là loại đất xám bạc màu glây trên phù sa cổ có diện tích 32 nghìn ha, phân bố chủ yếu ở Vĩnh Phúc và Phú Thọ. Đất có độ phì tự nhiên không cao, hàm lượng các nguyên tố dinh dưỡng trong đất thấp đặc biệt là nguyên tố kali. Trồng ngô trên loại đất này cần chú trọng các biện pháp kỹ thuật như: bón phân cân đối các nguyên tố N, P, K chú ý nguyên  tố K; cần chú trọng đến các nguyên tố trung lượng đặc biệt là Mg; tăng cường bón phân hữu cơ; sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp của cây trồng vụ trước vùi lại cho cây trồng vụ sau; tăng cường các biện pháp  giữ ẩm cho đất.
+ Đất đen nhiệt đới có diện tích là 2.851 ha, phân bố chủ yếu ở tỉnh Lào Cai. Đất có chất lượng khá tốt, thích hợp cho những loại cây: ngô, đậu đỗ, mía và các loại cây ăn quả. Chú ý sử dụng các loại phân bón phù hợp trong môi trường trung tính và kiềm giàu Ca++, Mg++.
+ Nhóm đất đỏ vàng có diện tích khoảng 1.705 nghìn ha, phân bố ở tất cả các tỉnh trong vùng. Nhóm đất đỏ vàng có các loại sau: Đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính; đất đỏ nâu trên đá vôi; đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất; đất vàng đỏ trên đá trên đá macma axit; đất vàng nhạt trên đá cát và đất nâu vàng trên phù sa cổ.
+ Đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính, có diện tích 5.200 ha, phân bố ở Hà Giang và Phú Thọ. Đất có chất lượng khá tốt, song lượng nước hút ẩm của đất khá cao, độ ẩm cây héo đối với ngô lớn. Độ ẩm hữu hiệu khá cao, song về mùa khô nhiều trường hợp độ ẩm của tầng mặt xuống dưới độ ẩm cây héo. Đất rất thích hợp cho cây ngô, tuy nhiên cần chú trọng: chống xói mòn; che phủ, giữ ẩm đất vào mùa khô; làm đất tối thiểu để bảo vệ kết cấu đất và bón phân cân đối N, P, K; cần chú ý P và K trong tỷ lệ cân đối.
+ Đất đỏ nâu trên đá vôi, có diện tích khoảng 16 nghìn ha, phân bố ở Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ. Đất có hàm lượng các chất dinh dưỡng khá, xốp, song tốc độ thấm nước mạnh. Trong điều kiện khô hạn ở tầng mặt thường thiếu ẩm nghiêm trọng. Đất thích hợp với nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây ngô.
+ Đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến bị chất, có diện tích khoảng 123 nghìn ha, phân bố chủ yếu  ở các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Phú Thọ. Đất này được hình thành trên các loại đá sét và đá biến chất nơi có địa hình đồi thoải ít dốc, đất rất chua, thành phần cơ giới sét nhẹ, thịt. Đất có chất lượng trung bình. Nên  bố trí diện tích ngô ở nơi có địa hình thích hợp (có độ dốc < 250), chú trọng các biện pháp canh tác như: bón phân cân đối các nguyên tố: N, P, K, chú ý P; phân hữu cơ; các biện pháp chống xói mòn…
+ Đất vàng đỏ trên đá macma axit, có diện tích khoảng 283 nghìn ha, phân bố rãi rác ở tất cả các tỉnh trong vùng. Do địa hình dốc và nằm trên đá mẹ axit nên tầng đất mỏng. Đất có chất lượng thấp, đất dễ bị thoái hóa. Cần bố trí cây ngô ở những vùng có địa hình thích hợp (có độ dốc < 250, nếu đất có độ dốc >200 cần tạo các tiểu bậc thang trước khi trồng ngô và che phủ bằng các vật liệu hữu cơ) chú trọng các biện pháp chống xói mòn, bón phân cân đối và giữ ẩm cho đất.
+ Đất vàng nhạt trên đá cát, có diện tích khoảng 156 nghìn ha, phân bố chủ yếu ở Tuyên Quang, Hà Giang, Vĩnh Phúc và Phú Thọ. Đây là loại đất rất xấu lại phân bố trên địa hình dốc, dễ bị xói mòn nên ưu tiên sử dụng vào mục đích lâm nghiệp. Nếu trồng cây lương thực như: sắn, ngô…cần sử dụng các biện pháp canh tác thích hợp như bón phân cân đối, giữ ẩm cho đất và sử dụng các biện pháp chống xói mòn thích hợp.
b.Thời vụ
Cũng giống như vùng Đông Bắc, vùng này thường gieo từ hạ tuần tháng 4 đến đầu tháng 5, thu hoạch vào cuối tháng 8 đến đầu tháng 9. Đối với vùng núi thấp phải tranh thủ trời ấm để gieo sớm hơn vào cuối tháng 3 hoặc đầu tháng 4. Ngoài ra, có thể trồng ngô Hè Thu trên đất cao dễ thoát nước và ngô Thu Đông (gieo vào cuối tháng 8 đến đầu tháng 9) trên đất bãi sông, ngô ngắn ngày trên đất bỏ hóa vụ xuân.
Những hạn chế chính
Rừng bị tàn phá. Xâm thực xói mòn rửa trôi mạnh. Mùa đông khắc nghiệt, khô hạn sương muối, giá rét, nhiệt độ thấp. mùa đông đến sớm từ tháng 11 và kéo dài đến giữa tháng 4, nhiệt độ của vùng núi cao nhiều khi xuống 5-7 0C.

 

 

 

 

ABC

Ban biên tập

TT

Họ và tên

Cơ quan công tác

1

TS. Nguyễn Văn Vấn

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

2

PGS.TS. Nguyễn Văn Viết

Ban Khoa học & HTQT, Viện KHNNVN

3

TS. Hồ Quang Đức

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

4

TS. Nguyễn Công Vinh

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

5

ThS. Lê Văn Hải

Viện Nghiên cứu Ngô

6

ThS. Nguyễn Hoàng Long

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

7

ThS. Phạm Thị Xuân

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

8

CN. Lê Thị Liên

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

9

CN. Phạm Hồng Hạnh

Viện Bảo vệ thực vật

Ban Thông tin - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Địa chỉ: Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội