Ngan hang kien thuc trong ngo

KỸ THUẬT SẢN XUẤT HẠT GIỐNG NGÔ

 

Khái niệm về giống ngô và tiêu chuẩn hạt giống ngô

 

I. Khái niệm về giống ngô

 

Dựa trên cơ sở di truyền và quá trình chọn tạo giống, ngô được phân thành hai loại: Giống ngô thụ phấn tự do và giống lai.

1. Ngô thụ phấn tự do

 

Là loại giống mà trong quá trình sản xuất hạt  không cần đến sự can thiệp của con người vào quá trình thụ phấn- chúng thụ phấn tự do (hoặc nếu có con người hỗ trợ cũng chỉ giúp cho quá trình thụ phấn tốt hơn mà thôi, bản thân chúng đã có khả năng tự thụ phấ rồi). Tên gọi giống ngô thụ phấn tự do để phân biệt với giống lai. Tuy nhiên, cũng không nên gọi là giống thuần như lúa và các cây tự thụ phấn khác mặc dù chúng khá đồng đều và ổn định về mặt quần thể vì ngô là cây thụ phấn chéo, là không thuần theo nghĩa di truyền. Giống ngô thụ phấn tự do bao gồm:

 

- Giống địa phương
- Giống tổng hợp
- Giống hỗn hợp                                           
- Giống thụ phấn tự do cải thiện

1.1. Giống ngô địa phương:

Là giống đã tồn tại trong một thời gian dài tại địa phương, có những đặc trưng, đặc tính khác biệt với các giống khác và di truyền được cho các thế hệ sau. Giống ngô địa phương có những đặc tính sau:

 

- Có độ thích nghi cao với địa phương thông qua tính chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất thuận của địa phương đó.

 

- Có chất lượng cao

 

- Năng suất thấp

 

Hiện nay, ở một số vùng vẫn sử dụng giống ngô địa phương, đặc biệt ở các vùng xa xôi, hẻo lánh (miền núi phía Bắc, Tây Nguyên,…) và thường bao gồm các thể loại ngô nếp, ngô nổ. Các giống ngô địa phương nổi tiếng trước đây như Gié Bắc Ninh, Lừ Phú Thọ, Xiêm trắng, Làng Khuyên, Bắp đỏ Cao Miên,…nay hầu như đã bị thay thế bởi các giống mới năng suất cao.

 

1.2. Giống ngô tổng hợp:

Là thế hệ tiên tiến của giống lai nhiều dòng bằng thụ phấn tự do. Quá trình chọn tạo giống ngô tổng hợp gồm các bước:
- Chọn tạo các dòng thuần
- Xác định khả năng kết hợp chung các dòng thuần
- Lai giữa các dòng tốt và có khả năng kết hợp cao để tạo tổng hợp
- Duy trì và cải thiện quần thể (tổng hợp) bằng các phương pháp chọn lọc gia đình.


 

 

1.3. Giống ngô hỗn hợp:  Là thế hệ tiến  triển của tổ hợp các nguồn ưu tú có nền di truyền khác nhau. Bao gồm các giống thụ phấn tự do, tổng hợp, lai kép, lai ba… được lựa chọn theo một số chỉ tiêu như năng suất, thời gian sinh trưởng, đặc điểm hạt, tính chống chịu…Các bước trong quá trình phát triển một giống hỗn hợp bao gồm:
- Chọn thành phần bố mẹ
- Lai thử, chọn các cặp lai cho năng suất cao ở F1 và ít giảm năng suất ở F2
- Tạo lập hỗn hợp bằng thụ phấn dây chuyền hoặc luân giao
- Duy trì và cải thiện giống bằng các phương pháp chọn lọc quần thể.
Các giống ngô tổng hợp và hỗn hợp đại đại diện là TH 2A, TSB1, TSB2, VM1, MSB49, Q2,  ...
1.4. Giống ngô thụ phấn tự do cải thiện:
Là ” Tập hợp các kiểu hình tương đối đồng đều đại diện cho phần ưu tú nhất của một quần thể trong một chu kỳ cải thiện nào đó”. Bao gồm:

 

- Tạo vốn gen
- Tạo quần thể
- Tạo giống thí nghiệm
- Khảo nghiệm giống thí nghiệm
- Đưa vào sản xuất giống tốt nhất
Tạo vốn gen: Vốn gen là nguồn dự trữ gen, cú cấu trúc di truyền rất rộng. Vốn gen được tạo bởi sự hỗn hợp di truyền của rất nhiều giống, giống lai, quần thể… có cùng vùng thích nghi, cùng thời gian sinh trưởng, cùng dạng hạt và màu hạt.
Vốn gen được quản lý và cải thiện bằng hệ thống tái hợp nửa máu tương tự như lô lai bắp trên hàng cải tiến. Độ lớn của vốn gen tương đối rộng.
Vốn gen được tái hợp và cải thiện liên tục, được mở rộng nền di truyền khi cần thiết bằng việc đưa thêm những vật liệu mới từ ngân hàng gen hoặc từ các chương trình quốc gia.
Từ vốn gen, qua chọn lọc gia đình (thường là phương pháp chọn lọc gia đình anh em nửa máu) người ta tạo ra các quần thể tuỳ theo mục tiêu của chương trình bằng việc tái hợp các gia đình tốt nhất. Từ mỗi một vùng chọn ra 8-10 gia đình tốt nhất ( phần ưu tú nhất) và dùng hạt lưu tái hợp bằng lai luân phiên để tạo lập một giống thí nghiệm. Tổng hợp tất cả các vùng khảo nghiệm lại chọn 8-10 gia đình tốt nhất để tạo giống thí nghiệm mới.
Giống thí nghiệm mới được gọi tên theo địa phương khảo nghiệm.
Khảo nghiệm giống thí nghiệm:
Những giống thí nghiệm được tạo ra từ các quần thể được gộp lại thành các bộ giống thí nghiệm ( gộp theo thời gian sinh trưởng và màu hạt) và gửi đi khảo nghiệm ở các vùng sinh thái khác nhau.
Các giống tốt được trồng thử rồi đưa vào sản xuất.

2. Ngô lai

 

Trong sản xuất hiện nay, thường có hai loại giống ngô lai: giống ngô lai không quy ước và giống ngô lai quy ước.

2.1. Giống ngô lai không quy ước:

Là giống ngô lai trong đó ít nhất có một bố hoặc mẹ không thuần.
Sử dụng giống ngô lai không quy ước là bước chuyển tiếp từ việc gieo trồng giống ngô thụ phấn tự do sang giống lai quy ước. Giống lai không quy ước có năng suất và các đặc điểm nông sinh học cao hơn giống thụ phấn tự do, song có giá giống thấp hơn giống lai quy ước, do đó phù hợp với điều kiện kinh tế- kỹ thuật.
Ở Việt Nam có một giai đoạn (1990-1995) giống lai không quy ước được sử dụng nhiều và mang lại hiệu quả cao cho người sản xuất. Đây là giai đoạn người nông dân tiếp cận quen dần với giống lai, tạo cơ sở cho việc phát triển ngô lai sau này. Những giống lai không quy ước được sử dụng nhiều là các giống LS-6, LS-8 thuộc thể loại lai đỉnh kép không những cho năng suất cao mà quá trình sản xuất hạt giống cũng dễ dàng, giá thành hạt giống rẻ.

 

2.2. Giống ngô lai quy ước:
Là giống ngô lai giữa các dòng thuần. Dựa vào số dòng thuần tham gia tạo giống lai quy ước được phân thành:
- Giống lai đơn: Là giống lai giữa hai dòng thuần
- Giống lai ba: Là giống lai giữa một lai đơn và một dũng thuần

 

- Giống lai kép: Là giống lai giữa hai lai đơn
Lai đơn là giống lai ưu tú nhất, thể hiện ưu thế lai cao nhất song giá thành sản xuất hạt giống cao nên giá bán đắt. Giống lai ba và lai kép chỉ là biện pháp làm giảm giá nhằm phổ cập nhanh giống lai vào sản xuất, không có ý nghĩa gì về mặt cải thiện tính di truyền của giống.
Chọn tạo giống ngô lai gồm hai bước:

 

- Phát triển dòng thuần (tạo hoặc rút dòng)
- Đánh giá khả năng kết hợp của dòng
Phát triển dòng thuần
Phát triển dòng thuần có tiềm năng sử dụng làm bố mẹ cho các giống lai năng suất cao, ổn định là mục tiêu cơ bản của chương trình cải tạo cây ngô và là một công việc thường xuyên, liên tuc. Thực tế, tỉ lệ thành công trong tạo giống là rất thấp, chỉ khoảng 0,01-0,1% số dòng được sử dụng. Do vậy, tập đoàn dòng càng phong phú càng đa dạng thì xác suất thành công càng cao.
Nguồn gen sử dụng để tạo dòng thuần rất đa dạng, bao gồm tất cả các mẫu giống thu thập được từ giống, quần thể địa phương, các giống thụ phấn tự do, các gia đình và các thể loại giống lai.
Các quần thể phân li từ các giống lai thương mại hoặc từ các cặp lai ưu tú được sử dụng phổ biến hơn cho tạo dòng vì thời gian tạo dòng ngắn, sự suy giảm do đồng huyết thấp và xác suất đạt được dòng ưu tú cao hơn. Bên cạnh các giống lai ưu tú, các giống tổng hợp cũng được coi là nguồn tốt cho tạo dòng. Việt Nam không phải là nơi xuất xứ của cây ngô, tập đoàn các giống và quần thể địa phương nghèo nàn, do đó nguồn vật liệu nhập nội là rất quan trọng.

Đánh giá khả năng kết hợp của dòng:
Tạo dòng là công việc thường xuyên song không phải là khó khăn nhất trong chương trình tạo giống ngô lai. Đánh giá dòng mới là quan trọng và phức tạp, đòi hỏi nhà tạo giống phải có trình độ chuyên môn cao, phải khách quan và cẩn trọng trong nghiên cứu về các đặc tính nông sinh học, khả năng chống chịu và năng suất xác định xem dòng đó cho cây lai tốt hay xấu qua lai tạo.


 


II. Quy định tiêu chuẩn hạt giống ngô

 

Theo quy định tại Pháp lệnh giống cây trồng số 15/2004/PL-UBTVQH ngày 05/04/2004 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, hạt giống ngô cũng như các loại hạt giống khác được quy định như sau:
+ Hạt giống tác giả: Là hạt giống thuần do tác giả chọn, tạo ra.
+ Hạt giống siêu nguyên chủng (SNC): Là hạt giống được nhân ra từ hạt giống tác giả hoặc phục tráng từ hạt giống tác giả hoặc phục tráng từ hạt giống sản xuất theo quy trình phục tráng hạt giống siêu nguyên chủng và đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định.
+ Hạt giống nguyên chủng (NC): Là hạt giống được nhân ra từ hạt giống siêu nguyên chủng và đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định.
+ Hạt giống xác nhận (XN): Là hạt giống được nhân ra từ hạt giống nguyên chủng và đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định.

 

+ Hạt giống nhập khẩu: Phải có nhãn mác ghi đầy đủ các chỉ tiêu về giống và phải được cơ quan kiểm soát chất lượng hạt giống của nước xuất khẩu xác nhận đủ tiêu chuẩn giống.

 

Tiêu chuẩn ngành của hạt giống ngô:

 

Theo Quyết định số 4100 QĐ/BNN-KHCN, ngày29 tháng 12 năm 2006, của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì hạt giống ngô được quy định như sau:

 

a. Hạt giống ngô thụ phấn tự do: 10 TCN 313 : 2006

 

Chỉ tiêu

Giống nguyên chủng

Giống xác nhận

Độ sạch, % khối lượng, không nhỏ hơn

99,0

99,0

Hạt cỏ dại, số hạt/kg, không lớn hơn

0

5

Hạt khác giống có thể phân biệt được, số hạt/ kg không lớn hơn

20

40

Tỷ lệ nảy mầm, % số hạt, không nhỏ hơn*

85

85

Độ ẩm, % khối lượng, không lớn hơn

 

 

                   - Trong bao thấm nước

13,0

13,0

                   - Trong bao không thấm nước

11,0

11,0

          *) Đối với ngô đường, tỷ lệ nảy mầm không nhỏ hơn 70%

 

b. Hạt giống ngô lai: 10 TCN 312 : 2006 

    

Chỉ tiêu

Dòng bố, mẹ

Giống lai qui ước

Giống lai không qui ước

Độ sạch, % khối lượng, không nhỏ hơn

99,0

99,0

99,0

Hạt cỏ dại, số hạt/kg, không lớn hơn

0

0

5

Tỷ lệ nảy mầm, % số hạt, không nhỏ hơn*

80

87

85

Độ ẩm, % khối lượng, không lớn hơn

 

 

 

          - Trong bao thấm nước

12,5

12,5

12,5

          - Trong bao không thấm nước

11,0

11,0

11,0

           (*) Đối với ngô đường, tỷ lệ nảy mầm không nhỏ hơn 70%.


ABC

Ban biên tập

TT

Họ và tên

Cơ quan công tác

1

TS. Nguyễn Văn Vấn

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

2

PGS.TS. Nguyễn Văn Viết

Ban Khoa học & HTQT, Viện KHNNVN

3

TS. Hồ Quang Đức

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

4

TS. Nguyễn Công Vinh

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

5

ThS. Lê Văn Hải

Viện Nghiên cứu Ngô

6

ThS. Nguyễn Hoàng Long

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

7

ThS. Phạm Thị Xuân

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

8

CN. Lê Thị Liên

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

9

CN. Phạm Hồng Hạnh

Viện Bảo vệ thực vật

Ban Thông tin - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Địa chỉ: Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội