Ngan hang kien thuc trong ngo

THU HOẠCH VÀ BẢO QUẢN NGÔ

 

Làm khô ngô bằng các thiết bị sấy

Từ xa xưa cho đến hiện nay, nhiều vùng trồng ngô ở Việt nam  thường áp dụng phương pháp làm khô truyền thống. Các phương pháp này làm khô hạt ngô một cách tự nhiên đơn giản, tận dụng được lao động, có đầu tư ban đầu thấp. Tuy nhiên, nhược điểm của chúng là tốn nhiều diện tích, lâu khô, phụ thuộc vào thời tiết. Nếu gặp thời tiết bất lợi, mưa dài ngày thì ngô dễ bị hỏng gây tổn thất lớn. Hiện nay các phương pháp này trong thực tế chỉ phù hợp với điều kiện sản xuất nhỏ lẻ, tại những vùng sản xuất lớn ngô hàng hóa, sau khi thu hoạch ngô từ ngoài đồng về, nếu không làm khô kịp thời, ngô rất dễ bị ẩm mốc, hư hỏng. Do vậy phải sử dụng các thiết bị sấy để khắc phục những hạn chế trên và đảm bảo chất lượng hạt.  Sau đây là một số thiết bị sấy và biện pháp kỹ thuật đi kèm mà nhiều vùng trồng ngô có thể áp dụng.

 

2.1.Máy sấy tĩnh vỉ ngang

 


a/ Cấu tạo và nguyên lý làm việc

 


Thiết bị sấy tĩnh vỉ ngang hoạt động theo nguyên lý sấy đối lưu cưỡng bức. Thiết bị có kết cấu tương đối đơn giản, được ứng dụng rộng rãi để sấy hạt ngô và các hạt nông sản khác nh­ư thóc, đậu đỗ…
 
Sơ đồ nguyên lý cấu tạo của thiết bị sấy tĩnh vỉ ngang như sau:


  

Máy sấy tĩnh vỉ ngang

1. Buồng sấy
                            

3. Quạt sấy                           

5. Lò đốt

7. Ghi lò

2. Sàn sấy                             

4. Buồng hoà khí

6. Quạt lò

8. Đồng hồ đo nhiệt độ

 

Hạt ngô hoặc các hạt nông sản khác nh­ư thóc, đậu đỗ… được đổ trên sàn sấy 2, không khí từ lò đốt 5 được quạt 3 đẩy vào phía d­ưới buồng sấy 1, rồi xuyên qua lớp hạt làm hạt nóng lên, bay hơi ẩm và khô dần. Không khí nóng bị mất nhiệt, nhận ẩm, giảm nhiệt độ và thoát lên trên để ra ngoài. Nguồn nhiệt để sấy có đ­ược nhờ than đá hoặc phế thải nông nghiệp đ­ược đốt cháy trong lò đốt 5 cung cấp. Không khí nóng từ lò đốt có nhiệt độ cao nên đư­ợc đi qua buồng hoà khí 4 để hoà trộn với không khí môi trường, tạo ra một hỗn hợp không khí nóng có nhiệt độ phù hợp để sấy các nông sản khác nhau.
Nhiệt độ không khí nóng đ­ược thể hiện qua đồng hồ đo nhiệt độ 8 đặt trên kênh dẫn khí nóng vào buồng sấy. Nhiệt độ sấy đ­ược điều chỉnh theo yêu cầu công nghệ sấy của từng loại hạt nhờ điều chỉnh cửa ở buồng hoà khí.

 

b/ Ưu nh­ược điểm của máy sấy tĩnh vỉ ngang

Ưu điểm:
- Kết cấu đơn giản, dễ chế tạo, giá thành thấp;
- Dễ thao tác phù hợp với trình độ lao động của các địa phư­ơng;
- Chi phí sấy thấp: Khoảng 50 - 80 đồng/kg sản phẩm ngũ cốc.

 


Nhược điểm:
- Độ đồng đều về độ ẩm của sản phẩm không cao nếu trong quá trình sấy không đảo;
- Khó cơ giới hoá.

 


 
2.2. Máy sấy tĩnh vỉ ngang SV-500

 


a/ Cấu tạo

 


Máy sấy SV-500 là máy sấy tĩnh vỉ ngang, do Viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ Sau thu hoạch thiết kế, chế tạo. Máy có cấu tạo đơn giản, chắc chắn, dễ vận hành, dễ tháo lắp để di chuyển giữa các hộ nông dân. Máy có thể dùng để sấy các loại nông sản như ngô, thóc, khoai, sắn, măng, quả, củ làm thuốc… Máy sấy SV-500 có năng suất từ 500 – 700 kg/mẻ (tuỳ theo nguyên liệu là ngô hay thóc,…), và gồm 3 bộ phận chính sau:

 


 


Sơ đồ máy sấy SV-500

1. Quạt sấy

2. Cửa hoà khí

3. Cửa cho than

4. Cửa lấy xỉ

5. Lò đốt và buồng hoà khí

6. Sàn sấy

7. Buồng phân phối nhiệt

8. Cửa tháo sản phẩm

9. Buồng sấy

10. Đồng hồ chỉ thị nhiệt độ

 

 

 

Lò đốt và buồng hoà khí:  Được thiết kế có kích thước 60 x 60 x 80 cm, xây bằng gạch chịu lửa và bao bọc bằng tôn, có cửa cho than, cửa lấy xỉ và cửa hoà khí.

 

 

Quạt sấy: Loại quạt ly tâm có áp lực trung bình, động cơ điện 1 pha 750 W.

 

 

Buồng sấy: Thành buồng được làm bằng tôn dày, tháo lắp đơn giản. Sàn sấy được chế tạo bằng tôn dày 1 - 2 mm có đột lỗ đường kính 2 - 3 mm. Phía thành bên có 2 cửa tháo sản phẩm.

b/ Nguyên lý làm việc

 


Máy sấy SV-500 làm việc dựa trên nguyên lý đối lưu cưỡng bức kiểu vỉ ngang. Dòng khí nóng được hút từ lò đốt 5 nhờ quạt sấy 1 thổi vào buồng phân phối nhiệt 7, qua sàn sấy 6, đi xuyên qua lớp hạt chứa trong buồng sấy 9. Tác nhân sấy truyền nhiệt cho hạt, làm bốc hơi ẩm từ hạt. Không khí nóng nhận ẩm và thoát lên trên ra ngoài. Quá trình sấy này tiếp diễn đến khi đạt độ ẩm yêu cầu.

 


c/ Lắp đặt máy sấy

 


Chọn nơi bằng phẳng, nền cứng, có mái che (đề phòng trời mưa) để lắp máy sấy. Vị trí đặt lò đốt phải cách xa vật liệu dễ cháy nổ.
Kiểm tra kỹ các bộ phận của máy, đặc biệt là động cơ và quạt. Trường hợp lâu không sử dụng, động cơ điện có thể bị ẩm làm chập điện, vì vậy phải phơi (cần thiết thì sấy) động cơ trước khi sử dụng. Kiểm tra sự quay trơn của quạt, các dây dẫn điện, đồng hồ nhiệt độ. Khi thấy đầy đủ và các bộ phận ở tình trạng tốt, tiến hành ghép các thành buồng sấy với nhau bằng bu lông. Kiểm tra độ kín khí xung quanh thành buồng sấy với nền. Nếu bị hở sẽ thất thoát nhiệt, phải dùng bao tải, bẹ ngô hoặc giấy báo bịt kín, sau đó đặt sàn sấy.
Lắp quạt vào buồng phân phối nhiệt, đặt buồng đốt để cửa ra nhiệt vào miệng hút của quạt.

d/ Chuẩn bị và vận hành sấy

- Chuẩn bị:
Kiểm tra lại toàn bộ các bộ phận của thiết bị sấy. Chuẩn bị than đá (có thể than tổ ong) và một ít củi khô nhóm lò. Đổ hạt lên sàn sấy rồi san phẳng với chiều dày lớp hạt từ 0,3 – 0,5 m (nếu sấy ngô bắp thì xếp đứng 2 – 3 lớp).

 

 

Một số chỉ tiêu chính:
- Năng suất sấy: 500 - 700 kg/mẻ
- Thời gian sấy: 4 - 6 giờ (tuỳ độ ẩm ban đầu)
- Tiêu thụ than: 1 kg/giờ
- Chi phí điện: 2 - 3 kW/mẻ
- Nhân công: 1 người
- Chi phí sấy: 70 – 80 đồng /kg

 

- Vận hành sấy:
+ Nhóm lò: Xếp một ít củi khô lên ghi rồi đốt, khi củi cháy đượm, cho than đá từ từ lên trên lớp củi đang cháy. Khi than đã bén và củi cháy hết, đóng cửa lò và đóng cầu dao cho quạt sấy hoạt động để hút không khí nóng vào buồng sấy, điều chỉnh cửa lò để lò than cháy đều và ổn định. (Nếu là than tổ ong, xếp than lên ghi lò trước, cho củi khô vào trong cửa lấy xỉ và đốt. Khi than tổ ong bén, cháy tốt, đóng cửa lò và đóng cầu dao quạt sấy).
+ Nhiệt độ 1 - 2 giờ đầu giữ ở mức 60 - 650C, sau đó tăng lên 70 - 800C.
+ Sau 2 giờ sấy cần ủ ngô 30 phút rồi tiến hành đảo ngô bằng xẻng hoặc bàn trang. Cách đảo: Kéo ngô về 1 phía buồng sấy sau đó kéo về phía ngược lại. Làm 2 - 3 lần để ngô được đảo đều. Sau đó đóng cầu dao quạt để tiếp tục sấy. Đảo ngô 2 - 3 lần/ mẻ sấy.
+ Điều chỉnh nhiệt độ sấy bằng cách điều chỉnh cửa hoà khí.         
+ Kết thúc quá trình sấy cần bật quạt không cấp nhiệt cho đến khi ngô nguội hẳn rồi mới lấy ra.

 

* Lưu ý : Khi đang sấy mất điện hay quạt bị trục trặc làm máy sấy phải ngừng hoạt động trên 6 giờ, và nếu ngô vẫn còn ẩm (độ ẩm trên 17%) phải  dỡ ngô ra khỏi buồng sấy để hong phơi tiếp.

 


2.3. Một số máy sấy tĩnh vỉ ngang khác

2.3.1. Máy sấy tĩnh vỉ ngang STN-4.0

 


Công dụng:   Dùng để sấy các loại hạt nông sản nh­ư lúa, ngô, đậu đỗ, cà phê, các hạt th­ương phẩm cũng nh­ư làm giống. Ngoài ra máy còn có thể được dùng để sấy các loại rau quả nh­ư khoai, sắn, vải, nhãn,..
Máy đ­ược dùng cho các hộ, hoặc liên hộ làm dịch vụ hoặc cho các hợp tác xã, trạm trại sản xuất ở các quy mô theo các cỡ công suất khác nhau.

2.3.2. Máy sấy tĩnh vỉ ngang SH- 4

 

 

Công dụng:
Dùng để sấy các sản phẩm nông nghiệp dạng hạt nh­ư lúa, ngô, đậu đỗ, cà phê.
Máy đ­ược dùng ở quy mô liên hộ, các trạm trại sản xuất hoặc các công ty chế biến lương thực, nông sản..

.
2.3.3. Máy sấy tĩnh vỉ ngang có đảo chiều gió

 

Công dụng:
Dùng để sấy các sản phẩm nông nghiệp dạng hạt nh­ư lúa, ngô, đậu đỗ, cà phê.
Máy đ­ược dùng ở quy mô liên hộ, các trạm trại sản xuất hoặc các công ty chế biến nông sản, lương thực. Ưu điểm là không phải đảo hạt trong quá trình sấy. Tuy nhiên máy lại có kết cấu phức tạp hơn.

 

 

    
2.4. Máy sấy SH1- 200

Máy sấy SH1-200 do Viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ Sau thu hoạch nghiên cứu thiết kế và chế tạo. Máy hoạt động theo nguyên tắc sấy đối lư­u cưỡng bức kiểu vỉ đứng (tháp).

a/ Cấu tạo

Cấu tạo của máy gồm 2 ống trụ làm bằng lưới kim loại (4 x 4 mm) được lồng vào nhau và đặt trên đáy tháp. Đáy tháp sấy có hình chóp ngược, trên đó bố trí 3 cửa kéo để tháo liệu khi đảo hạt và lấy sản phẩm. Phía trong đáy có cấu tạo để lắp các ống trụ vào đáy tháp được chắc chắn và dễ dàng. Phía dưới đáy có 3 chân đỡ, ống nối chính tâm đáy được nối với miệng ra của quạt. Hệ thống cấp nhiệt gồm lò đốt than tổ ong (có thể dùng trấu hay mùn cưa). Phía trên lò than có một chụp hút được nối với ống dẫn vào hộp hoà khí gắn ở miệng hút của quạt. Trên hộp hoà khí có cửa gió để điều chỉnh nhiệt độ.

 

 

 

* Một số thông số kỹ thuật:
- Năng suất :  200 – 270 kg/mẻ
- Thời gian sấy :      14 giờ
- Công suất điện :   200 W/h
- Tiêu thụ than: 3 kg (3 viên than tổ ong)/h

 

Máy sấy SH1-200

 

b/ Chuẩn bị và vận hành sấy

Đổ hạt nông sản vào khoảng trống giữa hai ống trụ, trùm lên nóc chóp chặn gió, dùng tay san đều và nhóm lò than tổ ong. Khi than đã bén, đợi cho hết khói, đưa bếp lò vào dưới chụp hút. Cắm điện cho quạt sấy làm việc, quá trình sấy được bắt đầu. Quạt sấy sẽ hút khí nóng thổi vào ống trụ trong và đẩy xuyên qua lớp hạt. Hạt nhận nhiệt, bốc hơi ẩm và khô dần, còn không khí nóng nhận ẩm, mất nhiệt và thoát ra qua ống trụ ngoài. Trong quá trình sấy, điều chỉnh nhiệt độ bằng cửa gió trên hộp hoà khí, và bằng cách nâng hay hạ chụp hút ở trên lò đốt. Cứ cách 2 giờ thì tiến hành đảo hạt một lần bằng cách tháo hạt (lần lượt hay đồng thời) ở 3 cửa đáy, mỗi lần tháo khoảng 1 - 2 thúng hạt rồi đổ lại lên trên tháp sấy. Kết thúc quá trình sấy cần làm nguội hạt bằng cách kéo bếp than tổ ong ra ngoài và để quạt sấy tiếp tục hoạt động cho đến khi ngô nguội hẳn.

 

* Lưu ý:

 


- Lượng ngô phải cao hơn chóp chặn để đảm bảo cân bằng áp suất trong khoang sấy.
- Khi đảo lần 1, do còn ẩm, lớp ngô sát vỏ ngoài có thể chảy chậm hơn, phải lấy tay vỗ nhẹ xung quanh tháp giúp chúng chảy nhanh hơn, khối ngô sẽ được đảo đều hơn.
- Sau khi làm nguội ngô trong máy sấy, nên tháo hết ngô ra và cho vào dụng cụ bảo quản. Nếu để ngô trong máy qua đêm sẽ bị hiện tượng ướt ngô lớp sát đáy máy sấy.
- Khi đang sấy mất điện, hoặc quạt bị trục trặc làm máy sấy phải ngừng hoạt động trên hơn 6 giờ, và nếu ngô vẫn còn ẩm (độ ẩm trên 17%), phải dỡ ngô ra khỏi máy sấy để hong phơi tiếp.

 

* Ngoài máy sấy tháp đơn giản SH1-200, còn có nhiều loại máy sấy tháp khác như máy sấy Kongskilde, máy sấy GD-60U; máy sấy STD-1,5 … có năng suất cao và cấu tạo phức tạp hơn.

 

2.4. Một số điểm cần chú ý khi lựa chọn máy sấy

 

• Năng suất của máy phải phù hợp với sản lượng thu hoạch;
• Ngoài sấy ngô, thóc, máy phải có khả năng sấy được nhiều loại nguyên liệu khác trong vùng để tiết kiệm đầu tư;
• Máy phải có khả năng sấy đ­ược hạt từ độ ẩm ban đầu đến độ ẩm yêu cầu để bảo quản đối với mỗi loại nông sản;
• Có khả năng tăng được công suất để đáp ứng đ­ược sự tăng sản lượng trong tương lai;
• Khả năng đầu tư: tiền vốn mua thiết bị, mua nguyên liệu, nguồn năng lượng cho máy;
• Nguồn năng lượng và động lực sử dụng phải phù hợp với khả năng cung cấp tại chỗ.

 

ABC

Ban biên tập

TT

Họ và tên

Cơ quan công tác

1

TS. Nguyễn Văn Vấn

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

2

PGS.TS. Nguyễn Văn Viết

Ban Khoa học & HTQT, Viện KHNNVN

3

TS. Hồ Quang Đức

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

4

TS. Nguyễn Công Vinh

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

5

ThS. Lê Văn Hải

Viện Nghiên cứu Ngô

6

ThS. Nguyễn Hoàng Long

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

7

ThS. Phạm Thị Xuân

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

8

CN. Lê Thị Liên

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

9

CN. Phạm Hồng Hạnh

Viện Bảo vệ thực vật

Ban Thông tin - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Địa chỉ: Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội