Ngan hang kien thuc trong ngo

THU HOẠCH VÀ BẢO QUẢN NGÔ

 

Một số loại côn trùng chính hại ngô và nông sản trong kho

1. Mọt gạo

 

 

- Phân bố và tác hại: Phân bố khắp thế giới đặc biệt là các nước nhiệt đới. Mọt gạo ăn hại tất cả các loại lương thực, sinh sản nhanh, khả năng thích ứng rộng với môi trường, thời gian sống dài. Mọt gạo có vòi nhọn, khi ăn dùng vòi đục một lỗ nhỏ và đẻ trứng vào đó. Trứng nở, sâu non lớn dần lên ăn nội nhũ hạt, chỉ để lại lớp vỏ mỏng không có giá trị sử dụng.

Đây là côn trùng phá hại sơ cấp, và được xem là loại nguy hiểm nhất đối với các kho lương thực ở nước ta.
- Đặc điểm hình thái:                                           
+ Dạng trưởng thành: Dài 3 -  4 mm, rộng 1 - 1,2 mm, toàn thân màu xám đen, đầu có vòi nhô ra. Trên cánh cứng có những đường dọc và nhiều điểm lõm tròn. Râu hình đầu gối có 8 đốt, mảnh lưng ngực có nhiều điểm lõm tròn.
+ Dạng trứng: Dài 0,45 - 0,7 mm, rộng 0,24 - 0,3 mm, hình bầu dục dài, một đầu phình ra, ban đầu màu trắng sau chuyển sang màu đục nhạt.
+ Sâu non: Dài 2,5 – 3 mm, đầu nhỏ màu nâu nhạt, trên mình có đường vân ngang, thân mập, ngắn, thường cong lưng, có màu vàng đục.
+ Nhộng dài 3,5 - 4 mm hình bầu dục, lúc mới hoá nhộng màu trắng sữa sau thành nâu nhạt.
- Đặc tính sinh học:
Mọt hoạt bát, có tính giả chết, bay khá tốt, thích bò lên cao và bò phía ngoài của bao nông sản. Mọt đục lỗ vào các hạt nông sản rồi đẻ trứng vào đó và dùng chất nhầy để bịt lỗ lại bảo vệ. Mỗi lần đẻ 1 - 2 trứng, một mọt cái đẻ từ 3 - 10 trứng/ngày. Từ 1 đôi mọt (1 đực + 1 cái) trong điều kiện thích hợp có thể sinh sôi tạo ra một quần thể đông tới 800.000 cá thể/năm.
Ở vùng nhiệt đới, mỗi năm mọt sinh trung bình 4 - 5 lứa có khi tới 7 lứa. Thời kỳ trứng 3 - 16 ngày, thời kỳ sâu non 13 - 28 ngày, thời kỳ nhộng 4 - 12 ngày, thời kỳ trưởng thành 54 - 311 ngày.
Ở nhiệt độ 28 - 300C, thời gian hoàn thành một thế hệ hầu như không thay đổi: trong thóc và ngô là 40 - 41 ngày.
Mọt hoạt động mạnh nhất trong điều kiện sau: nhiệt độ 24 - 300C (thích hợp nhất là 290C, dưới 130C và trên 380 C ngừng hoạt động), độ ẩm không khí từ 90 - 100%, và thuỷ phần hạt là 17%. Độ ẩm không khí tối thiểu để mọt đẻ trứng là khoảng 60%. Mọt gạo có khả năng nhịn ăn từ 6 - 12 ngày, phụ thuộc vào nhiệt độ và ẩm độ không khí. Trung bình, mọt gạo sống khoảng 180 đến 200 ngày tuỳ thuộc vào nhiệt độ và thuỷ phần của hạt.

 

2. Mọt ngô

 

- Phân bố và tác hại: Phân bố rộng khắp thế giới, nhất là châu Á, Địa trung hải, Bắc Mỹ. Mọt ngô là loài ăn tạp, ăn các loại hạt ngũ cốc, các loại đậu, hạt có dầu và nhiều nông sản khác, nhưng chúng thích nhất là ngô hạt. Mọt ngô có thể đẻ trứng cả ngoài đồng lẫn trong kho nên thuộc loại phá hại  nghiêm trọng. Đây cũng là côn trùng phá hại sơ cấp.                     
-  Đặc điểm hình thái: Mọt ngô trông rất giống mọt gạo, nhưng hơi lớn hơn. Thân dài khoảng 5 mm,hình bầu dục dài, màu đỏ đến nâu đen, không bóng, chấm lõm trên đầu rất rõ ràng.
- Đặc tính sinh học: Mọt ngô khoét một lỗ vào hạt rồi đẻ trứng vào đó và bịt lại bằng một chất dịch nhầy. Sâu non nở ra là ăn hại ngay. Chúng ăn phôi mầm trước rồi đến nội nhũ ngô và lớn dần lên, hạt ngô bị sâu ăn chỉ còn 1 lớp vỏ mỏng. Trong điều kiện thích hợp mỗi con cái đẻ nhiều nhất được 384 trứng. Bình thường một vòng đời của mọt ngô khoảng 40 ngày, nhưng ở điều kiện thuận lợi chỉ mất 28 - 30 ngày: thời kỳ trứng 3 - 6 ngày, thời kỳ sâu non 18 - 32 ngày, thời kỳ nhộng 12 - 16 ngày. Ở nhiệt độ 00C mọt có thể sống được 37 ngày, ở -50C mọt sống được 23 ngày, còn -100C tất cả các giai đoạn phát triển của mọt đều chết sau 13 ngày.

 

3. Ngài bột Địa trung hải

 

- Phân bố và tác hại: Phân bố rộng khắp thế giới. Sâu non ngài Địa trung hải ăn bột gạo, bột ngô, cám, thóc, các  loại đậu đỗ. Sâu non nhả tơ làm cho bột vón cục. Đây thuộc loài phá hại thứ cấp.                                                           
- Đặc điểm hình thái:                                             
+ Dạng trưởng thành: đầu và ngực màu xám trắng, cánh trước có lác đác các điểm màu đen. Con đực bé hơn con cái, con đực dài 7 - 8 mm, sải cánh dài 16 - 18 mm. Con cái dài 9 - 12 mm, sải cánh dài 18 - 20 mm. Bên ngoài của đầu cánh trước có mấy điểm đen xếp thành hàng. Cánh sau màu trắng xám, ở rìa của bốn cánh đều có lông nhỏ và dài.
+ Sâu non:Toàn thân màu trắng sữa hơi pha màu hồng nhạt, thân to và mập. Khi đẫy sức dài 12 - 15 mm. Đầu và mảnh cứng trước ngực màu nâu, gốc lông ở đốt ngực hình tròn màu nâu đen, ở đốt thứ 8 có một đường vòng bằng chất màng.
+ Nhộng: có hình ống dài màu đen, đốt bụng cuối có 4 đôi lông móc câu. Nhộng dài6,5 - 9 mm, rộng 1,5 - 2 mm.
- Đặc tính sinh học:
Ngài thích sống ở nơi râm mát, tối và ẩm. Mỗi năm ngài sinh 4 - 6 lứa. Ở nhiệt độ 180C một vòng đời cần 80 - 101 ngày: thời kỳ trứng 7 - 14 ngày, thời kỳ sâu non 56 - 70 ngày, thời kỳ nhộng 17 - 20 ngày. Sau khi hoá ngài, chúng giao phối ngay trong đêm và đêm hôm sau đã đẻ trứng ngay trong thức ăn, Một đời ngài cái có thể đẻ 119 - 678 trứng. Thời gian đẻ trứng kéo dài trong 5 - 7 ngày. Sâu non lột xác 5 lần. Đời ngài rất ngắn, con cái sống 7 ngày, con đực sống 6 ngày.  

4. Ngài thóc Ấn độ

 

- Phân bố và tác hại: Phân bố khắp thế giới, là loài sâu đa thực, sâu non ăn tất cả các loại nông sản trong kho như thóc, gạo, ngô, bột mỳ, cao lương, các loại đậu đỗ, thuốc bắc và các loại hạt cây có dầu. Khi ăn, sâu non ăn từ ngoài vào rồi nhả tơ kết hạt lại tạo thành vón, sâu non nằm ở trong ăn rồi hoá nhộng. Đây thuộc loại phá hại thứ cấp
- Đặc điểm hình thái:
+ Dạng trưởng thành: thân dài 6,5 - 9 mm, khi trưởng thành sải cánh 13 - 18 mm. Đầu nâu xám, mắt màu đen, râu hình sợi chỉ. Cánh trước dài và hẹp, ở gần gốc cánh 1/3 màu vàng nâu nhạt. Phần còn lại màu nâu hồng. Cánh sau màu xám trắng, cánh sau và cánh trước đều có lông viền xung quanh.             
+ Sâu non: toàn thân màu gần như trắng sữa hay vàng xanh nhạt. Khi đẫy sức có thể dài 10 - 13 mm. Khi còn nhỏ thường có màu hồng, nhạt, đầu màu vàng nâu, vàng nhạt hay nâu đỏ. Toàn thân gồm 13 đốt, đốt thứ 11 lớn nhất, đoạn bụng có lông cứng.
+ Nhộng: Mình nhỏ dài màu vàng, dài 5,7 -  7,2 mm, rộng 1,6 - 2,1 mm. Lưng màu nâu, cuối bụng có 8 đôi lông móc câu. Kén nhộng trắng, mỏng và ánh sáng có thể xuyên qua được.
- Đặc tính sinh học:
Sinh 4 - 6 lứa/năm, sau khi nở 3 ngày đã bắt đầu đẻ trứng. Thời gian đẻ trứng 1 - 18 ngày. Ngài thường đẻ trứng vào ban đêm, trên bao bì hoặc trên đống hạt. Đời một con cái đẻ từ 30 - 200 trứng. Trung bình mỗi lần đẻ 12 - 30 trứng, một ngày đẻ được nhiều nhất 144 trứng. Thời kỳ trứng 2 - 17 ngày, thời kỳ sâu non 22 - 25 ngày, thời kỳ nhộng từ 1 - 2 tuần. Khi nở, ấu trùng đục ngay vào hạt để ăn hại từ phôi mầm trước rồi đến các phần còn lại. Phân sâu non có màu hồng và có mùi hôi. Ngài cái đẻ xong chỉ sống được 5 ngày, con đực sống được 2 - 25 ngày. Thời gian thực hiện một vòng đời mất 28 -  260 ngày phụ thuộc vào điều kiện môi trường. Dưới 150C ngài ngừng phát dục.

 

 

CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ CÔN TRÙNG HẠI NGÔ VÀ NÔNG SẢN TRONG KHO

 

1. Biện pháp vật lý

 

Sử dụng nhiệt (nóng, lạnh) bức xạ vi sóng và sóng cơ học là những lựa chọn đầy hứa hẹn trong lĩnh vực bảo quản nông sản. Một số loại đất trơ (đã mất hoạt tính) trên cơ sở diatomit được để sản xuất và đưa vào sử dụng để bảo quản nông sản từ năm 1994. Trên thế giới biện pháp này đã được dùng nhiều và rất hiệu quả trong việc phòng trừ côn trùng hại ngô, gạo. Tuy không độc hại đối với người, không để lại dư lượng trong nông sản nhưng chi phí đầu tư mua sắm thiết bị quá lớn. Vì vậy, ở Việt Nam biện pháp này chưa được áp dụng rộng rãi.

 

2. Biện pháp sinh học

 

- Bẫy bả: dùng các hợp chất dẫn dụ côn trùng để kiểm tra, phát hiện sự chớm lây nhiễm côn trùng. Xác định đúng thời điểm lây nhiễm để có các biện pháp kiểm soát côn trùng hại hữu hiệu bằng cách làm lây nhiễm sinh vật hại bằng mầm bệnh. Bẫy bằng chất dẫn dụ kết hợp cùng với một số loại vi rút và nấm cũng được nghiên cứu áp dụng.
- Các chất điều hoà sinh trưởng và phát triển cho côn trùng, các loại thuốc trừ sâu có nguồn gốc tự nhiên đã được ứng dụng để kiểm soát phòng trừ vi sinh vật hại kho trong bảo quản.
- Sử dụng các loại ký sinh thiên địch, các chế phẩm sinh học có khả năng ức chế hoặc làm giảm mật độ côn trùng gây hại …, cho đến nay việc một số chế phẩm sinh học để trừ sâu mọt hại kho còn nhiều hạn chế do hiệu lực của chế phẩm chưa cao và thời gian tác dụng còn chậm.
- Sử dụng các loại thuốc có nguồn gốc tự nhiên
Từ lâu bà con nông dân ta đã có kinh nghiệm sử dụng nhiều loại lá cây như lá xoan, lá cơi, lá trúc đào, bụi thuốc lá, thuốc lào… để trộn với hạt nông sản trước khi đưa vào bảo quản.
Tác dụng của một số loại thực vật là gây ngán ăn, xua đuổi hoặc ức chế sinh trưởng và phát triển của côn trùng, chống sự xâm nhập của mọt, và một số vi sinh vật gây hại trong quá trình bảo quản.

 

Liều áp dụng của một số loại thực vật diệt côn trùng

 Loại thuốc

Liều lượng diệt (mg/m3)

Mọt gạo

Mọt bột đỏ

DDVP

         0,246.103

 0,27

Bụi thuốc lá

   0,395

 0,59

Bụi thuốc lào

   0,625

 0,66

Sử quần tử

  1,30

 1,48

Lá trúc đào

13,30

11,06

Lá xoan

16,10

19,8

 

 

3. Biện pháp hoá học

Dùng các loại thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ sinh vật hại kho trong quá trình bảo quản. Biện pháp này có hiệu quả nhanh chóng với nhiều loại côn trùng, nhưng các loại thuốc hoá học thường để lại dư lượng trong nông sản, chúng gây ô nhiễm môi trường sinh thái, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. Đôi khi còn tiêu diệt cả những sinh vật có lợi, thậm chí còn tạo ra tính kháng thuốc của côn trùng sau thời gian sử dụng. Biện pháp hoá học chỉ có thể được sử dụng khi các biện pháp khác hiệu quả thấp hoặc không có hiệu quả. Một số thuốc bảo vệ thực vật đang được phép sử dụng trong bảo quản nông sản gồm: Dichlovos, Phorát, Pirimiphos-metyl, chế phẩm D10, Guchunging; Hiện nay nhôm phosphine cũng đang được sử dụng nhiều trong các kho tập trung thuộc hệ thống kho quốc gia. Khi sử dụng phải tuyệt đối tuân thủ quy trình đảm bảo an toàn cho người và gia súc xung quanh khu vực khử trùng, vì phosphine có tính độc cao có thể gây chết người ở liều lượng rất nhỏ 800-1000 ml PH3 trong thời gian 5 phút.

 

4. Biện pháp phòng trừ tổng hợp IPM sau thu hoạch ngô và nông sản

 

Để nâng cao hơn nữa chất lượng của công tác bảo quản ngô và nông sản sau thu hoạch, người ta áp dụng biện pháp tổng hợp (IPM) phòng trừ côn trùng hại kho . Dựa trên những cơ sở khoa học về công tác bảo quản nông sản theo IPM, quy trình công nghệ bảo quản nông sản quy mô hộ nông hộ  gồm các biện pháp sau:
- Tăng cường công tác sơ chế tuyển chọn để đảm bảo nông sản đạt chất lượng cao trước khi đưa vào bảo quản.
- Sử dụng các phương tiện chứa, kho bảo quản phù hợp.
- Tăng cường vệ sinh kho, phương tiện bảo quản, hạn chế ảnh hưởng xấu của môi trường.
- Sử dụng biện pháp vật lý, sinh học cũng như thủ tục kiểm soát sinh vật hại kho.
- Loại trừ các chất bảo vệ thực vật trong danh mục cấm.
- Tăng cường sử dụng các hợp chất tự nhiên từ các chất thảo mộc để kiểm soát sinh vật có hại trong bảo quản. Đây được xem là phương pháp công nghệ sinh học hợp lý trong kiểm soát sinh vật hại kho và thân thiện với môi trường.
- Nâng cao kiến thức cộng đồng thông qua các hoạt động tuyên truyền, mở lớp tập huấn về IPM sau thu hoạch nhằm cung cấp kiến thức và nâng cao hiểu biết cho nông dân trong công nghệ sau thu hoạch. Coi nông dân là đối tác chính trong hệ thống quản lý sinh vật hại kho tổng hợp (QLSVHTH - IPM) sau thu hoạch trong bảo quản. 

Ban biên tập

TT

Họ và tên

Cơ quan công tác

1

TS. Nguyễn Văn Vấn

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

2

PGS.TS. Nguyễn Văn Viết

Ban Khoa học & HTQT, Viện KHNNVN

3

TS. Hồ Quang Đức

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

4

TS. Nguyễn Công Vinh

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

5

ThS. Lê Văn Hải

Viện Nghiên cứu Ngô

6

ThS. Nguyễn Hoàng Long

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

7

ThS. Phạm Thị Xuân

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

8

CN. Lê Thị Liên

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

9

CN. Phạm Hồng Hạnh

Viện Bảo vệ thực vật

Ban Thông tin - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Địa chỉ: Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội