Ngan hang kien thuc trong ngo

 

Một số loại dinh dưỡng chính từ phân bón

1.  Phân hữu cơ
Là các loại phân từ vật nuôi, chất phụ phẩm cây trồng (rơm rạ, thâ lá ngô….), chất độn, nước thải chuồng trại. Bằng các phương thức chế biến khác nhau, phân hữu cơ được nông dân sử dụng làm phân bón cho cây trồng rất tốt.

- Các chất thải hữu cơ gồm: từ trâu, bò, ngựa, lợn và gia cầm các loại.

- Chất độn và phụ gia: có nguồn gốc từ thực vật như rơm, rạ, vỏ trấu, thân ngô và cỏ các loại đêm chế biến thanh phân bón.

- Các lọai cây phân xanh: cỏ lào, côt khí, các loại muồng, bèo Nhật bản, than lá các cây họ đậu….
Cách chế biến:

+ Thu gom các chất thải hữu cơ.

+ Đổ phân thành lớp, mỗi lớp phân dày 40- 60cm và giữa các lớp phân là vôi bột.

+ Kích thước đống phân: dài 3- 4m, rộng 2- 3m, cao 1,5- 2,5m.

+ Dùng bùn ao hoặc đất thịt để trát kín đống phân+ Thời gian ủ: 3- 5 tháng hoặc lâu hơn tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng.

 

 


2. Phân vô cơ

 

a. Phân Đạm
- Dạng phân đạm amôn (NH4+) di chuyển từ từ trong đất, ít bị rửa trôi. Vì vậy, bón cho ngô cần được vùi lấp đất, không để NH4+ ở tầng trên mặt dễ bị ôxy hóa thành nitrat và bị rửa trôi hoặc bị phản đạm hóa, khí N2 sẽ bay hơi. Điển hình có đạm Urê (NH2)2CO, hàm lượng đạm 46%.

- Dạng đạm NO3- không nên bón cho đất ngập nước, vì dạng này rất dễ bị rửa trôi.

-Đạm Nitrat amôn NH4NO3 (đạm 2 lá), hàm lượng đạm 35%.

- Đạm Amônsunfat (NH4)2SO4, hàm lượng đạm 20%.

b. Phân Lân

Phân lân có nhiều loại nên khi sử dụng cần hiểu bản chất của các loại đó. Có 4 loại phân lân thường dùng ở nước ta như Supe phốt phát đơn (Lâm Thao, Long Thành…); phân Tecmo phốtphát (phân lân Văn Điển FMP – VĐ, Ninh Bình…);  phân lèn; phân phức hợp (Diamôn phốtphát (NH2)2HPO4 - DAP, Amôphốt hoặc mônôamôn phốtphát NH4H2PO4 -  MAP). Cần lựa chọn loại phân thích hợp với loại cây, loại đất.

- Phân supe lân phù hợp cho tất cả các loại đất, loại cây, có thể dùng để bón lót rải lên mặt đất hoặc theo từng hàng, theo hốc rồi lấp đất lên trên; có thể dùng để bón thúc theo cách như trên, hoặc hoà nước để tưới.

- Phân lân nung chảy có hiệu quả cho các loại cây trồng như  lúa, ngô, lạc, đậu đỗ, mía, dâu tằm, dứa, hồ tiêu, chè, cà phê, cao su, đồng cỏ chăn nuôi và các vùng đất chua pH<5, vùng đất bạc màu, đất chua mặn (đất phèn), đất cát ven biển, đất trũng lầy thụt, đất đồi feralit chua.

- Phân lân nung chảy không nên trộn với nước giải vì làm mất đạm.

 

c. Phân Kali

 

- Kaliclorua, hàm lượng Kali 51 và 60%. Chú ý bón KCl qua nhiều năm làm cho đất chua, magiê, canxi, nitrrat bị rửa trôi, gây hiện tượng thiếu Bo làm cho cải bắp rỗng ruột, làm cho cây dứa bị bệnh héo lá về mùa đông.

 

- Kali sunphát bón tốt cho các loại cây như thuốc lá, rau, cây ăn quả có múi (cam, quýt, chanh, nho), cây họ đậu và cây hoa.


 

 

 

d. Phân hỗn hợp N

Có đầy đủ các thành phần Đạm, Lân, Kali,  khi bón xem kỹ hướng dân trên bao bì.
Phân NPK có nhiều loại, hàm lượng của các chất dinh dưỡng Đạm (N), Lân (P) và Kali (K) được sản xuất ra nhiều mức khác nhau. Ví dụ: NPK= 5. 10. 3 tức là hàm lượng N có 5%, P2O5 có 10% và K2O có 3%. Nghĩa là cứ 100 kg phân NPK này có 5kg N, 10kg P2O5 và 3 kgK2O.

Phân hổn hợp, ngoài 3 chất dinh dưỡng cính là đam, lân, kali, nhiều nhà sản xuất còn bổ sung các yếu tố dinh dưỡng trung lượng như Can xi (Ca), Lưu huỳnh (S), hay vi lượng như Kẽm (Zn), Bo (B), Đồng (Cu) để tăng hoạt tính kích thích, tăng đậu hoa, đậu quả…3. Phân vi sinh và phân bón qua lá

 

a. Phân vi sinh

 

Là chế phẩm chứa các vi sinh vật sống có hoạt lực cao đã được tuyển chọn. Thông qua các hoạt động của nó tạo ra các chất dinh dưỡng cho đất và cây trồng.
Dựa vào mật độ vi sinh vật hữu ích để chia phân vi sinh thành 2 loại:

 

- Phân vi sinh vật có mật độ VSV hữu ích cao (>108 tế bào/gam), VSV tạp thấp (<106 tế bào/ gam). Liều lượng bón thấp, từ 300- 3000g/ha.

 

- Phân vi sinh vật có mật độ VSV hữu ích thấp (< 107 tế bào/ gam), VSV tạp khá cao. Liều lượng bón từ 100 - 1000 kg/ ha. Chất mang là các hợp chất vô cơ (bột Photphorit, bột xương...) hoặc các chất hữu cơ (than bùn, bã nấm, phế thải nông nghiệp...).

 

b. Phân bón qua lá

 

Phân bón qua lá là những hợp chất dinh dưỡng có nguyên tố Đa lượng, hoặc Trung lượng, hoặc Vi lượng, được hoà tan trong nước và phun lên cây để cây hấp thu.
Hiệu quả: Cây sử dụng gần 95% chất dinh dưỡng bón qua lá. Trong khi đó, bón qua đất cây chỉ sử dụng được 45- 50% chất dinh dưỡng.

 

+ Một số loại phân bón qua lá cho ngô thông dụng

1/ NitraMa (Magneesium Oxide 15%, Nitrate 11%), bón 2,7 kg/ha.

2/ Bortrac (Bo 15%), 2,7 lít/ha.

- Đầu trâu 502 ( NPK: 30, 12, 10; các vi lượngkhác: Ca, Mg, Zn, Cu, Bo, Fe, Mn, Mo...), bón 2,7 kg/ha.

3/ Thiên nông: được sản xuất tại Mê Linh, Vĩnh Phúc. Hàm lượng NPK là 20-10-10; 10-20-20 hoặc 10-30-25.

4/ YOGEN (Con én đỏ): do Công ty phân bón Miền Nam sản xuất. Chủng loại YOGEN gồm: dạng bột, dạng lỏng, Lân hữu cơ, khoáng hữu cơ cao cấp, MKP, MAP, KHO,...

5/ K- HUMATE: do Công ty ViNacal Hoa Kỳ sản xuất.

 

+ Một số lưu ý khi bón phân qua lá

 

- Hoà loãng phân theo đúng tỷ lệ ghi trên bao bì hướng dẫn.

- Không nên dùng phân bón qua lá (dễ làm rụng lá), khi độ ẩm không khí thấp và đất bị hạn nặng.

- Không nhầm lẫn giữa phân bón lá với chất kích thích sinh trưởng cây trồng.

- Không nên sử dụng phân bón lá khi cây đang ra hoa, trời đang nắng to, hoặc mưa lớn.

 

ABC

Ban biên tập

TT

Họ và tên

Cơ quan công tác

1

TS. Nguyễn Văn Vấn

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

2

PGS.TS. Nguyễn Văn Viết

Ban Khoa học & HTQT, Viện KHNNVN

3

TS. Hồ Quang Đức

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

4

TS. Nguyễn Công Vinh

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

5

ThS. Lê Văn Hải

Viện Nghiên cứu Ngô

6

ThS. Nguyễn Hoàng Long

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

7

ThS. Phạm Thị Xuân

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

8

CN. Lê Thị Liên

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

9

CN. Phạm Hồng Hạnh

Viện Bảo vệ thực vật

Ban Thông tin - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Địa chỉ: Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội