Ngan hang kien thuc trong ngo
1. Tầm quan trọng và yêu cầu kỹ thuật

 


Ngô hạt không có vỏ trấu, nếu điều kiện bảo quản không tốt (ngô chưa chín già, phơi chưa thật khô, dụng cụ chứa đựng không kín...) ngoài chim, chuột, mốc, mọt có thể phá hỏng hoàn toàn cả kho ngô trong vòng vài tháng. Vì vậy việc làm khô hạt ngô đến độ ẩm cần thiết để có thể bảo quản an toàn, hạn chế mức độ hư hỏng là rất cần thiết và quan trọng. Sau khi thu hoạch, hạt ngô có độ ẩm khoảng 22 – 28%. Nếu khi thu hoạch gặp thời tiết xấu, mưa thì độ ẩm hạt có thể lên tới 30 - 35%. Do vậy, hạt ngô cần được làm khô đến khi độ ẩm chỉ còn từ 12 - 13%.
Quá trình làm khô hạt ngô phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Hạt ngô phải đạt độ khô cần thiết để bảo quản;
- Bảo toàn chất lượng sản phẩm (hương vị, màu sắc);
- Chi phí làm khô thấp (công lao động, nhiên liệu sấy, năng lượng…);
- Tỷ lệ tổn thất, hao hụt trong công đoạn làm khô thấp;
- Năng suất và điều kiện lao động phù hợp với quy mô sản xuất.
Trong thực tế có rất nhiều cách làm khô hạt ngô bằng phương pháp truyền thống như phơi nắng, hong gió..., hay bằng các máy sấy.

 

 

2. các phương pháp làm khô truyền thống
 

 

2.1 Phơi ngô
Phơi ngô là cách truyền thống đơn giản, dễ áp dụng, nhu cầu đầu tư cơ bản thấp. Có thể phơi ngô trên sân hoặc dàn phơi.
- Phơi cả bắp cho đến khi đạt độ khô cần thiết cho quá trình bảo quản. Trước khi phơi bắp ngô phải được bóc bỏ hết lá bẹ và râu ngô. Có thể sử dụng lá bẹ để bó nhiều bắp thành túm treo phơi và bảo quản nguyên bắp.

 

 

 

 

 

 


 

- Chiều dày lớp bắp (hoặc hạt) phơi khoảng 5 - 10 cm. Thường mỗi giờ đảo đều lớp ngô phơi.
- Phơi ngô thật khô, kiểm tra bằng cách cắn hay đập thấy hạt vỡ vụn thành các mảnh sắc cạnh, sàng sảy sạch tạp chất và loại bỏ hạt non, hạt lép.

 


a/ Phơi bằng sân phơi
Sân phơi có thể là sân bê tông, sân gạch, sân xi măng. Yêu cầu sân phải sạch sẽ, thoát nước tốt. Nếu là sân đất thì lót cót, bạt, tấm nhựa màu càng sẫm càng tốt. Tuy phơi bằng sân có thuận tiện nhưng lại phụ thuộc vào thời tiết. Nếu sản lượng ngô lớn thì đòi hỏi diện tích sân phơi cũng phải lớn.

 

 

 


b/ Phơi bằng dàn phơi, sào phơi

 


Sử dụng dàn phơi làm tăng được diện tích sân phơi, dễ dàng thu gom ngô hàng ngày hoặc khi mưa dông bất thường. Thuận lợi nhất là dàn phơi có lắp bánh xe. Dàn phơi có thể làm bằng tre, gỗ hoặc sắt thép. Mỗi dàn có 5 - 7 tầng. Các tầng có thể điều chỉnh độ nghiêng theo hướng ánh nắng mặt trời. Mỗi tầng đặt nhiều khay phơi (như nong, nia hoặc sàng kim loại).


 

 

2.2. Hong gió

 


Vào thời điểm thu hoạch rộ, không đủ sân phơi, nên áp dụng biện pháp hong gió nhằm bảo quản ngô tạm thời khi thời tiết không thuận lợi. Nếu địa phương có khí hậu hanh khô, có thể sử dụng biện pháp hong gió để làm khô và bảo quản ngô bắp dài ngày. Tuy nhiên hong gió khó tránh được chim, chuột, sâu mọt phá hại và lây nhiễm nấm mốc.
Kho hong gió thường làm cao 2,5 - 3,5 m, rộng 1 m và chiều dài tùy theo lượng ngô bắp. Khung kho được làm bằng tre, gỗ, bê tông hoặc kim loại có mái che mưa. Thành kho phải thoáng cho gió lùa qua, chỉ cần ngô bắp không rơi lọt. Thành kho thường được làm bằng phên tre nứa đan mắt cáo, lưới kim loại 25 x 25 mm hoặc ghép gỗ thưa có khe hở.
Bố trí hong gió ở nơi cao ráo, thoáng gió, bề mặt kho vuông góc với hướng gió chính của địa phương, sàn kho cách mặt đất trên 60 cm.


 

ABC

Ban biên tập

TT

Họ và tên

Cơ quan công tác

1

TS. Nguyễn Văn Vấn

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

2

PGS.TS. Nguyễn Văn Viết

Ban Khoa học & HTQT, Viện KHNNVN

3

TS. Hồ Quang Đức

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

4

TS. Nguyễn Công Vinh

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

5

ThS. Lê Văn Hải

Viện Nghiên cứu Ngô

6

ThS. Nguyễn Hoàng Long

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

7

ThS. Phạm Thị Xuân

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

8

CN. Lê Thị Liên

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

9

CN. Phạm Hồng Hạnh

Viện Bảo vệ thực vật

Ban Thông tin - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Địa chỉ: Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội