Ngan hang kien thuc trong ngo

THU HOẠCH VÀ BẢO QUẢN NGÔ

 

Tổn thất sau thu hoạch ngô ở Việt Nam

 

1. Tổn thất sau thu hoạch ngô ở nước ta
Theo các báo cáo về tổn thất sau thu hoạch của Cục Dự trữ quốc gia, Viện Công nghệ Sau thu hoạch và Đoàn chuyên gia khảo sát thực địa của Chương trình sau thu hoạch cho miền Bắc năm 2004, tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch đối với ngô và lúa của các tỉnh phía Bắc nói riêng và cả nước nói chung là khá lớn. Số liệu thể hiện trên các bảng sau:


Bảng tổn thất sau thu hoạch ngô

Các hoạt động

Số liệu của Cục  Dự trữ quốc gia
(Trung bình, %)

Số liệu của Đoàn chuyên gia khảo sát Chương trình miền Bắc
(Lớn nhất, %)

    Thu hoạch

 0,2

  10,0

    Tẽ

 4,2

    2,0

     Làm khô

-

   10,0

     Vận chuyển

 1,7

  -

     Bảo quản

 1,6

   30,0

    Tổng cộng:

7,7

   52,0

 

2. Nguyên nhân tổn thất sau thu hoạch ngô ở nước ta


Nguyên nhân gây tổn thất trong thu hoạch, sơ chế, bảo quản ngô và các nông sản có thể khái quát như sau:

 


a/ Những nguyên nhân cơ học:
- Rơi rụng khi thu hoạch, rơi vãi khi vận chuyển.
- Sót hạt khi tuốt/đập hay tẽ hạt.
- Tróc vỏ, nứt vỡ hạt khi tuốt/đập hay tẽ hạt.

 


b/ Những tổn thất do nguyên nhân sinh học:
- Các quá trình sinh lý, sinh hoá của chính bản thân hạt như hô hấp, mọc mầm, chín sau thu hoạch.
- Các dịch hại: sâu mọt, nấm mốc, chuột, chim...
Khối hạt bị mọc mầm, bị nhiễm dịch hại, v.v… không những chỉ làm giảm trọng lượng mà còn làm giảm chất lượng sản phẩm.

 


c/ Những hiện tượng thường gặp gây tổn thất nhiều trong công tác bảo quản hạt là:
- Hiện tượng dịch chuyển ẩm.
- Hiện tượng tự bốc nóng.
- Hạt bị nhiễm mốc, lên men.
- Hạt bị nhiễm sâu mọt.
Các yếu tố ảnh hưởng đến tổn thất sau thu hoạch là: độ ẩm và nhiệt độ không khí, sự thông thoáng (ô xy) của môi trường bảo quản.

3. Các biện pháp giảm tổn thất sau thu hoạch

- Giảm độ ẩm của hạt (sấy/làm khô) tới độ ẩm an toàn.
- Giảm nồng độ khí ô xy/giảm độ thông thoáng (bảo quản kín, bảo quản bằng khí cacbonic, nitơ).
- Kiểm soát nhiệt độ (thông gió cưỡng bức, làm mát).
- Xông hơi diệt trùng, dùng hoá chất bảo quản.

 

DỊCH HẠI TRONG BẢO QUẢN NGÔ

 

1. Nấm mốc và độc tố của nấm mốc

 


1.1.  Đặc điểm chung của nấm mốc

 


Nấm mốc là những vi sinh vật không có diệp lục tố, chúng thu nhận chất dinh dưỡng bằng cách thấm hút, kích thước thay đổi từ vi thể đến cỡ lớn hơn. Chúng có cấu trúc hình sợi, phân nhánh ra như dạng cành của thực vật. Chúng sinh sản bằng bào tử. Nấm cũng có thể dùng làm thức ăn, dùng lên men thực phẩm, nhưng cũng có thể gây hại, gây bệnh cho cây trồng và làm hư hỏng các loại ngũ cốc. Nấm phát tán theo gió, nước, côn trùng, động vật…

 


1.2. Tác động của nấm mốc lên khối hạt ngô và hạt nông sản

 


- Giảm khả năng nảy mầm và sức sống của hạt giống vì chúng sinh ra độc tố làm chết các trụ phôi, sản sinh ra enzim phá huỷ vách tế bào của hạt.
- Làm hạt biến màu thành màu đen, đỏ, vàng hoặc tía
- Làm giảm giá trị dinh dưỡng. Nấm hấp thu chất dinh dưỡng từ hạt, làm phá vỡ thành phần hoá học, làm phân huỷ chất dầu ở các hạt có dầu như lạc, ngô, đỗ tương…
- Làm nóng khối hạt do sự tích tụ nhiệt của nấm trong quá trình tăng trưởng và sự hô hấp không ngừng của khối hạt gây ra.
- Làm hạt đóng bánh, sản sinh độc tố nấm, gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của người và động vật khi sử dụng hạt.
Các nấm mốc trong kho bảo quản gồm m­ười hai loài Aspergillus, trong đó có năm loài phổ biến. Một số loài Penicillium, các loài đơn độc của Sporendonema và một số loài nấm men cũng có thể có ở giai đoạn này. Những loài này có khả năng phát triển ở các hạt lương thực có độ ẩm cân bằng với độ ẩm tương đối của không khí từ 70% đến 90%.  Các nấm mốc trong bảo quản phát triển nhanh trên hạt ở khoảng nhiệt độ từ 30- 32oC, và tốc độ phát triển của chúng giảm đi khi nhiệt độ giảm.
Đối với ngô, sự hình thành độc tố Aflatoxin lý tưởng nhất khi nhiệt độ môi trường quanh hạt là 300C và độ ẩm hạt từ 14 – 30%.

 

 

1.3. Tác hại của độc tố nấm mốc lên người và động vật

 

 

Các độc tố do nấm mốc sinh ra bao gồm các loại sau:
- Các độc tố Aspergillus: Aflatoxin (B1, B2, G1, G2, M1, M2) sterimatocystin,  axit cyclopianzoic, trong đó aflatoxin B1 thường gặp và nguy hiểm nhất.
- Các độc tố Fusarium: deoxynivalenol, nivalenol, zearalenon, T-2 toxin.
- Các độc tố Penicillium: Patulin, ochratoxin A, citrinin, penitrem A, và axit cyclopianzoic toxin, diacetocyscirpenol, fumonisin và moniliformin.
- Các độc tố Alternaria:  axit tenuazoic, alternarion, methyl ether lternarion.
Các độc tố do nấm tạo ra đều nguy hiểm cho người và động vật, trong đó độc tố Aflatoxin B1 (do nấm Aspergillus sinh ra) là nguy hiểm nhất. Aflatoxin gây hại cho các loài gia súc đặc biệt là gà, vịt: làm hư hại gan, giảm cân, còi cọc chậm lớn, chất lượng thịt kém, trứng có tỷ lệ nở thấp, vỏ trứng mỏng, làm suy yếu hệ miễn dịch,  gia súc dễ bị nhiễm bệnh.
Ở người Aflatoxin gây ung thư ở gan, gây quái thai, gây đột biến nhiễm sắc thể. Nếu hít phải bụi có chứa các độc tố có thể gây ra ngứa, dị ứng, kích thích phổi và ngộ độc. Bị nhiễm cấp tính có thể gây tử vong, hoặc là nguyên nhân sinh ra các khối u ác tính.
Độc tố Zearalenon tác dụng lên hormon nội tiết estrogen và đến quá trình đồng hóa ở động vật, làm bộ phận sinh dục của lợn cái tổn thương (sưng phồng và phù nề), nặng hơn là làm buồng trứng teo lại, lợn chửa xảy thai.

1.4. Cách phòng ngừa độc tố nấm mốc

 


- Trước khi đưa vào bảo quản:
+ Cần làm khô hạt nông sản (lúa, ngô, đậu, lạc…) tới độ ẩm an toàn. Đối với ngô và thóc, độ ẩm an toàn là 13%.
+ Sàng làm sạch để loại bỏ những hạt nông sản kém chất lượng (vỡ, lép lửng, sâu mọt, thối, mốc).
- Trong quá trình bảo quản:
+ Thường xuyên kiểm tra, kiểm soát để phát hiện những triệu chứng của nấm mốc, loại bỏ những nông sản bị nhiễm độc, bị mốc. Xử lý lại những khối hạt chớm có hiện tượng hư hỏng
+ Lưu thông gió trong kho để hạt không tích nhiệt và nước (dùng quạt hoặc thông gió tự nhiên).
+ Dùng chất diệt nấm 

 

2. Côn trùng hại ngô trong bảo quản

 


2.1. Đặc điểm côn trùng hại ngô trong kho

 


Có nhiều loại côn trùng. Chúng có vỏ chắc chắn, nhẹ nhàng và đàn hồi để bảo vệ cơ thể. Cơ thể chúng nhỏ bé nên chỉ cần một lượng thức ăn nhỏ cũng đủ tồn tại. Côn trùng có khả năng thích ứng rộng với điều kiện ngoại cảnh và có sức sinh sản nhanh. Ngoài những đặc tính chung, côn trùng hại kho còn có những đặc tính sau cần chú ý để phòng trừ:
- Thuộc loại đa thực (ngoài ngô chúng còn ăn được nhiều loại lương thực);
- Có khả năng nhịn ăn rất tốt, có khả năng di chuyển xa để kiếm ăn;
- Phân bố rộng, dễ thích nghi với các điều kiện sinh thái khác nhau;
- Hầu hết côn trùng hại kho đều đẻ trứng.
Trong quá trình phát triển, để thực hiện một vòng đời, côn trùng phải trải qua một trong hai quá trình biến thái sau:


 

Vòng đời côn trùng hại ngô và nông sản trong kho

 

 

2.2. Tính chất và phương thức ăn hại của côn trùng hại kho

 


Phần lớn côn trùng hại kho có khả năng ăn hại ngô và nhiều loại nông sản, mức độ gây hại tuỳ theo loài côn trùng và đối tượng phá hại, chẳng hạn mọt gạo phá hại nghiêm trọng thóc, gạo, ngô, lúa mì nhưng lại ít phá các loại hạt cây họ đậu. Thí nghiệm nuôi 10 đôi mọt gạo trong hỗn hợp các loại hạt: thóc, gạo, ngô, mì, đậu xanh, đậu đen sau 60 ngày, tỷ lệ các hạt bị hại như sau:

 

Loại sản phẩm

Thóc

Gạo

Ngô

Đậu xanh

Đậu đen

Tỷ lệ hạt bị hại (%)

32,6

40,0

61,8

1,8

2,3

 

 

Căn cứ vào tính chất ăn hại của côn trùng hại kho, chúng được chia ra 2 nhóm:

 

a/ Nhóm ăn hại thời kỳ đầu

 

- Nhóm này còn gọi là nhóm côn trùng phá hại sơ cấp, gồm: Mọt thóc, mọt gạo, mọt đục hạt nhỏ, mọt thóc lớn, mọt ngô, mọt cà phê, mọt đậu xanh, ... Chúng có khả năng đục phá ăn hại khi các nông sản vẫn còn nguyên vẹn hoặc vỡ nát, làm cho hạt nông sản bị vỡ nát, rỗng ruột, tổn thương, tạo điều kiện cho sâu hại ở thời kỳ sau.

 

b/ Nhóm ăn hại thời kỳ sau

 

 

- Nhóm này còn gọi là nhóm côn trùng phá hại thứ cấp, gồm: Mọt thóc đỏ, mọt răng cưa, mọt râu dài, ngài bột Địa trung hải, ngài thóc Ấn độ, mọt thóc Thái lan, mọt gạo thò đuôi, mạt bột, mạt chấm đen, mạt vách dài, … Chúng có khả năng thích ứng với việc ăn hại các sản phẩm vỡ nát, đã qua chế biến không còn nguyên vẹn. Ngoài việc gây thất thoát về mặt khối lượng, nhóm côn trùng thứ cấp còn thải ẩm và toả nhiệt làm nông sản bốc nóng, dẫn đến chất lượng nông sản bị giảm sút nghiêm trọng trong quá trình bảo quản.

 

2.3. Những nguyên nhân lây lan của các loại côn trùng   

 

- Có những loại côn trùng vừa phá hại ngô và nông sản ở ngoài đồng lẫn trong kho, hoặc có những loài ăn hại trong kho ra ăn hại hạt ngoài đồng, và khi thu hoạch chúng xâm nhập vào nông sản sẽ được đưa vào bảo quản. Một số loài ăn hại trong kho nhưng ra ngoài đồng đẻ trứng ở bông, nhị, hạt, quả…
- Trong bảo quản, các kho tàng và dụng cụ bảo quản ngô và nông sản do không được vệ sinh vô trùng nên côn trùng ẩn nấp trong các khe kẽ, các chỗ nứt nẻ, chỗ kín, khi có điều kiện thuận lợi chúng phát triển ngay để phá hại. 
- Côn trùng lây lan theo các phương tiện vận chuyển, thông qua các sản phẩm đã chế biến chuyển từ nơi này đến nơi khác.
- Một số loài gậm nhấm, chim chóc bị côn trùng bám vào và trở thành vật mang côn trùng, làm lây lan khi chúng vào kho phá hại.


ABC

Ban biên tập

TT

Họ và tên

Cơ quan công tác

1

TS. Nguyễn Văn Vấn

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

2

PGS.TS. Nguyễn Văn Viết

Ban Khoa học & HTQT, Viện KHNNVN

3

TS. Hồ Quang Đức

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

4

TS. Nguyễn Công Vinh

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

5

ThS. Lê Văn Hải

Viện Nghiên cứu Ngô

6

ThS. Nguyễn Hoàng Long

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

7

ThS. Phạm Thị Xuân

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

8

CN. Lê Thị Liên

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

9

CN. Phạm Hồng Hạnh

Viện Bảo vệ thực vật

Ban Thông tin - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Địa chỉ: Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội