Ngan hang kien thuc trong ngo

SẢN XUẤT NGÔ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

Triển vọng và thách thức đối với nghề trồng ngô ở Việt Nam

a. Những thuận lợi và triển vọng
Ở nước ta ngô là cây lương thực sau lúa, những năm trở lại đây sản xuất ngô đang được chú ý do ngô không những là lương thực mà còn sử dụng làm thức ăn gia súc trong khi cơ cấu nông nghiệp đã chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt và tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi nên nhu cầu về ngô là khá lớn. Mục tiêu của ngành nông nghiệp trong những năm tới sẽ phấn đấu xây dựng vùng trồng ngô hàng hoá ở các khu vực: vùng Trung Du Miền Núi phía Bắc, vùng đồng bằng song Hồng, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên. Phát triển ngô đông trên đất lúa ở những nơi có điều kiện phù hợp, có đủ nước tưới. Đây là hướng đi tích cực trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng thâm canh tăng vụ, góp phần tăng sản lượng lương thực vững chắc đặc biệt ở khu vực dân cư miền núi.
Hiện nay diện tích trồng ngô cả nước là gần 1,2  triệu ha, năng suất trung bình 43 tạ/ ha, sản lượng giao động trong khoảng 4,5 - 5 triệu tấn/năm, trong khi nhu cầu về ngô của nước ta hiện nay là trên 5 triệu tấn/ năm kể cả cho chế biến lương thực và chăn nuôi, hơn nữa tổng sản lượng ngô sản xuất vẫn chưa đủ cho nhu cầu trong nước, hàng năm vẫn phải nhập trên nửa triệu tấn.Đây là điều kiện thuận lợi để sản xuất ngô phát triển mở rộng.
- Điều kiện tự nhiên của Việt Nam hoàn toàn thích hợp cho sản xuất ngô, đặc biệt là các vùng miền núi trong điều kiện canh tác lúa bị hạn chế.
- Nông dân Việt Nam có kinh nghiệm trồng ngô từ lâu đời.
- Đầu tư cho khoa học công nghệ nông nghiệp ngày càng tăng, kết hợp với tiếp thu  ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ về ngô của các nước trong khu vực và thế giới
- Ngô còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị, chúng ta cũng đã bước đầu xuất bán được giống ngô sản xuất trong nước. Trong tương lai, khi đã sản xuất đủ cho nhu cầu nội địa, chắc chắn ngô sẽ là mặt hàng xuất khẩu của nước ta giống như lúa gạo, vì nhu cầu lương thực và chế biên của thế giới cũng ngày một tăng, nhiều nước trên thế giới sử dụng ngô là lương thực chính, trong khi các giống ngô được trồng ở Việt Nam đều có chất lượng tốt.
- Hệ thống cơ chế, chính sách của nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện phát triển sản xuất lương thực trong đó có sản xuất ngô. 
- Việt Nam đã gia nhập WTO, đây là cơ hội lớn tạo điều kiện thuận lợi cho các loại sản phẩm nông nghiệp khác có quyền bình đẳng tham gia vào thị trường thương mại nông sản của thế giới
b. Những trở ngại và thách thức
- Sản xuất ngô ở nước ta vẫn mang tính nhỏ lẻ và phân tán, đặc biệt là các vùng miền núi, khó cơ giới hóa.
- Quá trình áp dụng giống mới chụi thâm canh, phát triển thành những vùng sản xuất hàng hóa là điều kiện thuận lợi để các loại dịch hại mới nguy hiểm, khó phòng trừ.
- Trong vài năm tới, có thể sẽ có mặt cây ngô biến đổi gen ở nước ta, là các giống ngô có nhiều ưu thế về năng suất. Đây là một thực tế có thể chúng ta phải chấp nhận nhưng làm thế nào để nó cạnh tranh lành mạnh với các giống ngô sản xuất trong nước là vấn đề không chút dễ dàng cho sản xuất ngô ở nước ta.
- Tham gia vào thị trường thương mại thế giới có sự đòi hỏi rất khắt khe về chất lượng nông sản. Do vậy phải có sự đầu tư một cách đồng bộ từ sản xuất đến đánh giá kiểm định chất lượng, bảo quản và vận chuyển tiêu thụ.
 
ABC

Ban biên tập

TT

Họ và tên

Cơ quan công tác

1

TS. Nguyễn Văn Vấn

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

2

PGS.TS. Nguyễn Văn Viết

Ban Khoa học & HTQT, Viện KHNNVN

3

TS. Hồ Quang Đức

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

4

TS. Nguyễn Công Vinh

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

5

ThS. Lê Văn Hải

Viện Nghiên cứu Ngô

6

ThS. Nguyễn Hoàng Long

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

7

ThS. Phạm Thị Xuân

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

8

CN. Lê Thị Liên

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

9

CN. Phạm Hồng Hạnh

Viện Bảo vệ thực vật

Ban Thông tin - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Địa chỉ: Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội