Ngan hang kien thuc trong ngo

CÁC VÙNG TRỒNG NGÔ CHÍNH Ở VIỆT NAM

 

 

a. Điều kiện tự nhiên

Vùng ngô Bắc Trung bộ gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An,  Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế.  
untitledĐất đai thổ nhưỡng  từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh có địa hình tương đối bằng phẳng,  chủ yếu là đất phù sa được bồi hàng năm dọc các sông Mã, sông Chu, sông Lam, sông La và đất phù sa không được bồi, đất lúa 2 vụ, đất cát ven biển vv… Độ phì nhiêu kém hơn vùng ĐBSH, nhưng vẫn là loại đất tốt. 
Các tỉnh Từ Quảng Bình đến  Thừa Thiên Huế đồng bằng nhỏ hẹp hơn, các sông thường ngắn, có độ dốc lớn, đất có thành phần cơ giới cát nhẹ, độ phù sa thấp, đất cát ven biển chịu ảnh hưởng của mặn.
 

b. Khí hậu                                                                           

Mùa đông còn tương đối lạnh, nhiệt độ trung bình tháng 12 đến tháng 2 thường dưới 20 0C (khoảng 16-19 0C). Tháng 7 thường có nhiệt độ trung bình tháng 28-29 0C. Tháng 1 thường có nhiệt độ trung bình từ 16,5-17,5 0C ở phía Bắc và 17-20 0C ở phía Nam. Mưa nhiều nhưng phân bố không đều, chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão, gió Tây khô nóng, gió mùa Đông Bắc. Số giờ nắng thực tế đạt 1.500-1.700 giờ/năm. Lượng bức xạ tổng cộng thực tế 105-130 kcal/cm2/năm. Lượng mưa trung bình năm 1.268 mm ở Tây Hiếu đến 2.399 mm ở phía Bắc và 1.300 mm ở phía Nam.
Khí hậu các tỉnh Thanh Hóa đến Hà Tĩnh cơ bản giống vùng ĐB sông Hồng, nhưng thường bị bão và lũ lụt vào cuối tháng 8 và tháng 9.
Các tỉnh Từ Quảng Bình đến Thừa Thiên Huế có khí hậu thường diễn biến phức tạp. các tỉnh phía Nam đèo Ngang thường có bão lũ lụt từ tháng 9 đến cuối tháng 10. Toàn vùng đều chịu ảnh hưởng của gió Tây nam nóng và khô. Vẫn ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc tuy nó yếu dần từ Bắc vào Nam.

 

c. Các vụ trồng ngô chính

Vùng Bắc Trung Bộ có ba  vụ ngô chính là ngô đông, ngô đông-xuân, ngô xuân, xuân –hè.

Vụ đông: Gieo vào giữa tháng 9 đến đầu tháng 10 trên đất  2 vụ lúa và thu hoạch vào tháng 1 tháng 2, với các giống: LVN8960, LVN14, LVN99, C919, NK54, VN2, NL1, MX4…

Vụ đông-xuân: Gieo sau lũ lụt vào giữa tháng 10 đến đầu tháng 11 với các giống: LVN10, LNV61, LVN8960, LVN14, LVN99, LVN37, C919, NK54, VN2, MX4, C.P.888, C.P.333, NK6326

Vụ xuân-hè: Gieo từ đầu tháng 2 đến 15 tháng 2, thu vào cuối tháng 6, tháng 7. Vụ này gieo sớm để tránh gió Lào cuối vụ. Với các giống NK6326, C919, LVN 25
Các huyện miền núi ngô được gieo trồng vụ hè-thu  là chính (tháng 5-tháng 7).
(tháng 5-tháng 7).

Vụ hè-thu: Gieo từ cuối tháng 5, tháng 6. Có nơi gieo sạ. Với các giống NK6326, MB 069

 

 

 

 

Ban biên tập

TT

Họ và tên

Cơ quan công tác

1

TS. Nguyễn Văn Vấn

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

2

PGS.TS. Nguyễn Văn Viết

Ban Khoa học & HTQT, Viện KHNNVN

3

TS. Hồ Quang Đức

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

4

TS. Nguyễn Công Vinh

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

5

ThS. Lê Văn Hải

Viện Nghiên cứu Ngô

6

ThS. Nguyễn Hoàng Long

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

7

ThS. Phạm Thị Xuân

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

8

CN. Lê Thị Liên

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

9

CN. Phạm Hồng Hạnh

Viện Bảo vệ thực vật

Ban Thông tin - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Địa chỉ: Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội