Ngan hang kien thuc trong ngo

 

a. Điều kiện tự nhiên

Vùng ngô Tây Bắc Bắc bộ  gồm các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La và Hòa Bình.
Tài nguyên đất trồng ngô của vùng này đa dạng và phức tạp: chủ yếu là đất phù sa thềm các hệ thống sông suối, (sông Đà, sông Mã, sông Nậm rốm, sông Nhuệ, sông Đáy), nhóm đất đen nhiệt đới, đất thung lũng đá vôi vv có địa hình bằng phẳng, giàu chất hữu cơ,  tầng đất mặt dày, ẩm, ít chua. Ngoài ra còn có các loại đất phiềng bãi dốc tụ và cả ở trên sườn núi, đất dốc hẻm đá vôi,  v.v đất tuy nghèo dinh dưỡng hơn nhưng cũng phù hợp với sản suất ngô.

 

 

b. Khí hậu
 Do cấu trúc địa hình như vậy nên vùng Tây Bắc bị che khuất cả hai luồng gió mùa chính. Luồng nào khi đến vùng này đều gây hiệu ứng phơn làm biến tính. Mùa đông của vùng khô lạnh hơn hơn, mùa hè gió Tây khô héo(gió Lào). Ở các thung lũng khuất gió mùa khô kéo dài, lượng mưa năm giảm. Mùa khô thường từ 4-5 tháng. Lượng mưa thường dưới 1.500 mm, có nơi chỉ đạt 1.100 mm.
Mùa đông ở đây ấm hơn vung Việt Bắc vẫn lạnh, khả năng sương muối, băng giá có nhiều ở các đới cao. Thời tiết quang mây lặng gió thịnh hành trong suốt mùa đông kết hợp với địa hình đã tạo ra chênh lệch nhiệt độ ngày đêm trung bình từ 12-14 0C. Mùa hạ đến sớm hơn các vùng khác, từ tháng 3 đã có những nhiệt độ tối cao vượt 30 0C, tháng 4 bắt đầu nóng thật sự. Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 6.


 

 

Mùa mưa của vùng đã bắt đầu và kết thúc sớm hơn các vùng khác thuộc Bắc Bộ 1 tháng. Tình hình mưa của vùng phân hóa mạnh, ở phía Bắc lớn ở trung tâm Mường Tè 2.000-3.000 mm/năm trong khi đó ở phía nam lượng mưa chỉ từ 1.400-1.600 mm/năm, cá biệt tại Yên Châu chỉ 1.108 mm/năm với số ngày mưa 11 ngày và không có ngày nào có lượng mưa trên 100 mm. Khí hậu Tây Bắc phân hóa theo các đai cao dưới 300 m, 300-700 m, 700-800 m trở lên.  

c. Các vụ trồng ngô chính

Thời vụ trồng ngô có ba vụ chính là vụ xuân-hè, hè- thu và thu-đông
Vụ xuân-hè: Những nơi đất đủ ẩm có thể tranh thủ gieo sớm và trồng giữa tháng 3 đầu tháng 4, thu hoạch vào cuối thang 7 đầu tháng 8,. với các giống ngô lai LVN 184 và LVN 14,  C919, LVN 25, CP 333 .
Vụ hè-thu: Gieo vào giữa tháng 4 đầu tháng 5 và thu hoạch tháng 8, nếu gieo sớm hơn khi đất còn khô thì ngô không mọc được, nếu gieo muộn hơn vào tháng 6 thì đất ướt dính (vì mùa mưa vùng này bắt đầu từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 5) với các giống: LVN10, LNV61, LVN8960, LVN45, LVN14, LVN99, NK54, LVN 25, CP333
Vụ thu-đông: Một số ít vùng thấp khí hậu ấm áp hơn có áp dụng thêm vụ thu-đông, gieo vào cuối tháng 8 đến đầu  tháng 9; với các giống: LVN10, LNV61, LVN8960, LVN45, NK54, NK4300,LVN 184 và LVN 14
Phương thức trồng xen cây họ đậu vào ngô khá phổ biến ở trong vùng, vừa thu được sản phẩm vừa có tác dụng che phủ chống xói mòn và cỏ dại, giữ ẩm và tăng cường chất hữu cơ cho tầng canh tác.

Một số hình ảnh về canh tác ngô ở vùng ngô Tây Bắc bộ


 

 

 

ABC

Ban biên tập

TT

Họ và tên

Cơ quan công tác

1

TS. Nguyễn Văn Vấn

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

2

PGS.TS. Nguyễn Văn Viết

Ban Khoa học & HTQT, Viện KHNNVN

3

TS. Hồ Quang Đức

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

4

TS. Nguyễn Công Vinh

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

5

ThS. Lê Văn Hải

Viện Nghiên cứu Ngô

6

ThS. Nguyễn Hoàng Long

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

7

ThS. Phạm Thị Xuân

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

8

CN. Lê Thị Liên

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

9

CN. Phạm Hồng Hạnh

Viện Bảo vệ thực vật

Ban Thông tin - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Địa chỉ: Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội