Ngan hang kien thuc trong ngo

CÁC VÙNG TRỒNG NGÔ CHÍNH Ở VIỆT NAM

 

6. Vùng ngô Tây Nguyên

 

a. Điều kiện tự nhiên

Vùng ngô Tây Nguyên gồm các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, ĐắkLăk, Đăk Nông và Lâm Đồng. Có tổng diện tích là 236.900 ha. Diện tích ngô hàng năm của vùng chiếm 25% diện tích ngô của cả nước.
Vùng Tây Nguyên hầu hết là đất đỏ bazan xen kẽ là những đồi sa diệp thạch và granit, đất phù sa sông suối, đất cao nguyên nằm cao trên các thung lũng từ 30-100 m, dốc từ 2-100, lác đác có cả đá vôi, đất vùng này có độ màu mỡ tốt rất thuận lợi cho sinh trưởng phát triển của ngô.

 

b. Khí hậu

Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô, giữa mùa mưa và mùa khô khác nhau rất rõ rệt. Lượng mưa bình quân khoảng 1500mm/năm, nhiệt độ trung bình trên 20oC. Thường có 4 tháng thiếu ẩm từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Lượng mưa thời kỳ này quá bé trong khi lượng PET quá lớn. Lượng mưa trong mùa mưa, phong phú nhiều nơi 5 tháng liên tục mưa vượt 200 mm/tháng (tháng 5-9). Riêng Cheo Reo chỉ có hai tháng vượt 200 mm/tháng. Lượng PET năm từ 1.200-1.280 mm/năm, riêng Buôn Ma Thuột trên 1.400 mm. Tháng có PET lớn nhất là tháng 3, nhỏ nhất là tháng 10, 11 hoặc 12 tùy theo tiểu vùng.
Nhiệt độ trung bình năm của vùng đạt 21-23 0C, riêng Cheo Leo trên 25 0C. Tháng nóng nhất là tháng 3 và 4, tháng lạnh nhất là tháng 1. Nhiệt độ tối cao tuyệt đối biển đổi mạnh: Ở vùng thấp như Hậu Bổn 39,7 0C, ở vùng cao như Pleycu 34,8 0C. Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối thay đổi từ 5-8 0C, ở vùng cao như Đà Lạt có thể xuống dưới 0 0C. Biên độ nhiệt độ ngày đêm từ 8-10 0C.
Số giờ nắng thường trên 2.000 giờ (Kon Tum) đến trên 2.450 giờ (Buôn Ma Thuột). Các tháng trong mùa khô có số giờ nắng vượt 200 giờ/tháng. Tháng 3 có số giờ nắng cao nhất 260 giờ. Tháng 8, 9 có số giờ nắng thấp nhất cũng đạt trên 110 giờ.Cán cân bức xạ vùng Tây Nguyên đạt xấp xỉ 80 kcal/cm2/năm. Tháng 4 có cán cân bức xạ cao nhất đạt 10 kcal/cm2 tại Pleycu là 11 kcal/cm2 tại Buôn Ma Thuột tháng 12 chỉ đạt 4-5 kcal/cm2.


 

c. Các vụ trồng ngô chính

 

Do khí hậu vùng Tây nguyên có  hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô.
Trong mùa mưa có thể trồng 2 vụ hè-thu và thu-đông

Vụ hè-thu (vụ 1): Gieo vào đầu mùa mưa, khi dã  có mưa điều hòa nghĩa là từ cuối tháng 4, đầu tháng 5;  thu tháng 8, nên trồng các giống dài ngày và có thể trồng cả giông ngắn ngày như: C.P.333  LNV61, LVN8960, C919, CP 888, NK54, NK4300, VN2, MX4,  LVN10, LVN66, NK 67.C191, NK 54, DK 171, G 49, Bioseed 9698.

Vụ thu-đông (vụ 2) (một số tỉnh đang thực hiện) gieo giữa tháng 8, đầu tháng 9, với các giông trung ngày hay hơi muộn 30Y87, VN2, Bạch Ngọc, T7 LVN10, LNV61, LVN8960, C919, NK54, MX4, NK 67
Vào mùa khô, nơi có điều kiện tưới ven sông  suối, đủ độ ẩm có thể gieo trồng thêm 1 vụ nữa:  gieo trong tháng 12 hoặc tháng 1. Vụ này thường nhân giống cho năm sau.

 


ABC

Ban biên tập

TT

Họ và tên

Cơ quan công tác

1

TS. Nguyễn Văn Vấn

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

2

PGS.TS. Nguyễn Văn Viết

Ban Khoa học & HTQT, Viện KHNNVN

3

TS. Hồ Quang Đức

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

4

TS. Nguyễn Công Vinh

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

5

ThS. Lê Văn Hải

Viện Nghiên cứu Ngô

6

ThS. Nguyễn Hoàng Long

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

7

ThS. Phạm Thị Xuân

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

8

CN. Lê Thị Liên

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

9

CN. Phạm Hồng Hạnh

Viện Bảo vệ thực vật

Ban Thông tin - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Địa chỉ: Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội