Ngan hang kien thuc trong ngo
a. Điều kiện tự nhiên
Vùng ngô Việt Bắc và Đông Bắc Bắc bộ có địa hình chia cắt phức tạp, được chi làm  hai tiểu vùng:
- Vùng ngô Đông Bắc: Gồm các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Giang, Bắc Kạn và Thái Nguyên.
- Vùng ngô Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn: Gồm các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang và Phú Thọ.


 

Đất trồng ngô ở vùng này cũng theo địa hình có thể chia ra:
Vùng này có địa hình chia cắt rất phức tạp, có thể phân biệt ra hai á vùng:
- Vùng núi cao trung bình biên giới. Đất chủ yếu là Feranit hình thành trên các loại đá có tầng đất từ trung bình đến dầy hàm lượng mùn cao và giàu chất dinh dưỡng.
- Vùngtrungdu. Tại đây mạng lưới sông suối chằng chịt hình thành các bãi phù sa và phù sa cổ có  độ phì nhiêu khá cao;

b. Khí hậu
1/ Vùng ngô Đông Bắc:  Do vị trí địa hình, vùng Đông Bắc chịu ảnh hưởng mạnh nhất của gió mùa đông bắc. Mùa lạnh đến vùng Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Giang sớm hơn các nơi khác. Nhiệt độ mùa đông thấp hơn các nơi khác. Thời kỳ có nhiệt đới dưới 200C ở độ cao 200 m là 140 ngày, 500 m là 165 ngày và 1000 m là 235 ngày và 320 ngày ở độ cao 1500 m. Biên độ nhiệt độ năm là 13-140C nhiệt độ trung bình năm của vùng Cao Bằng, Lạng Sơn, từ 20-220C, Bắc Kạn và Thái Nguyên 20-230C, Quảng Ninh và Bắc Giang        22-230C. Nhiệt độ tối cao tuyệt đối quan trắc được từ 36-400C, tối thấp tuyệt đối đạt (-3, 40C) tại Trùng Khánh (Cao Bằng), (-2,80C) tại Đình Lập (Lạng Sơn). Nhiệt độ trung bình tháng 1 tại Cao Bằng thường từ 11,5-14,20C, và tháng 7 từ 26-270C. Tại Quảng Ninh tháng 1 có nhiệt độ trung bình là 15-160C, tháng 7 (27-28,80C).
Lượng mưa trung bình hằng năm từ 1276 mm tại Móng Cái. Mùa mưa trong vùng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9, trừ khu vực Duyên hải. Có mưa dài hơn từ tháng 4 đến tháng 10. Lượng bốc hơi nước trên năm PET (Potential Evapo-Transpiration) thường từ        900-1100 mm, nói chung đủ ẩm từ 7-9 tháng. Số ngày mưa trong năm đạt 120-160 ngày.   


 

 2/ Vùng ngô Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn: Khí hậu của vùng có đặc điểm quanh năm duy trì độ ẩm cao mưa nhiều với các tầm mưa lớn nhất nước ta. Nhiệt độ mùa đông ấm hơn nhiều vùng Đông Bắc từ 1-20C. Ở các núi cao mùa đông lạnh có khả năng băng giá, sương muối, tuyết trong các tháng mùa ít mưa thường đạt 30-40 mm đến 60-70 mm/tháng. Hiện tượng mưa phùn cuối mùa đông cũng phát triển mạnh. Số ngày mưa phùn lên đến 50 hoặc hơn. Ở Yên Bái có đến 70 ngày mưa phùn. Lượng mưa dao động mạnh qua nhiều năm. Năm mưa lớn nhất có thể đạt 3000 mm, ở các tâm mưa lớn 1500 mm/tháng, những năm ít mưa lượng không vượt quá 1.500 mm/năm và tháng mưa lớn nhất chỉ đạt 100-200 mm.
Mùa sinh trưởng của cây trồng thường đạt từ 8-12 tháng rất thuận lợi cho nông lâm nghiệp, nhưng ở vùng núi cao bị giới hạn bởi nhiệt độ thấp.
Trong mùa đông thường có từ 70-100 ngày nhiệt độ trung bình xuống dưới 15 0C và khoảng 50 ngày dưới 10 0C. Ở vùng núi cao phải từ tháng 3 đến tháng đến tháng 11 nhiệt độ trung bình đều trên 20 0C. Ở vùng núi cao nhiệt đối trung bình tháng cao nhất cũng ít khi vượt 28 0C song nhiệt độ tối cao tuyệt đối có nơi xuống dưới 0 0C. Ở vùng núi lượng PET thay đổi từ 900-1000 mm/năm. Nhiều nơi có 5 tháng liên tục mưa trên 200 mm/tháng. Ở khu vực thấp và đồi, mùa sinh trưởng cây trồng còn dưới 8 tháng. Lượng PET từ 1000-1100 mm/năm. Nhiệt độ trung bình năm 22-23 0C. Nhiệt độ trung bình tháng 1 từ 15-16 0C. Từ tháng 4 đến tháng 11 nhiệt độ trung bình tháng đều vượt 20 0C.
Số giờ nắng thay đổi theo khu vực khá rõ, chỉ từ 1400 đến 1600 giờ/năm. Các tháng ít nắng nhất là tháng 1,2 và 3. Từ tháng 4 trở đi số giờ nắng tăng nhanh và đạt cực đại vào tháng 7. Cán cân bức xạ thường từ 58-68 kcal/cm2/năm.
Do điều kiện khí hậu rét đậm về mùa đông, mát mẻ về mùa hè nên rất thích hợp với việc phát triển các loại cây ôn đới, cây lúa và cây ngô. Tuy nhiên về mùa đông nhiều khi nhiệt độ xuống 5-7oC, có sương muối ở một số nơi,  thậm chí có băng giá vì vậy gây khó khăn cho việc tăng vụ ngô trong năm.
c. Các vụ trồng ngô chính
Ở Vùng ngô Việt Bắc và Đông Bắc Bắc bộ 3 vụ ngô chính là vụ xuân, xuân-hè và vụ hè.  tuy nhiên các vụ này được bố trí theo các vùng với độ cao khác nhau.
Đối với vùng thấp với độ cao so với mặt biển dưới 500 m  phải tranh thủ trời ấm để gieo sớm  cần lưu ý hạn đầu vụ nên không thể gieo trước tháng 3.  vụ xuân gieo vào cuối tháng 3 hoặc đầu tháng 4.
Vụ xuân: gieo vào cuối tháng 3 đầu tháng 4 thu hoạch thang 7, tháng 8với các giống: LVN10, LNV61, LVN8960, LVN45, LVN4, LVN885, LVN14, LVN99, C919, NK54, NK4300, VN2, MX4, LVN 25.
Các vùng có độ cao trên 500 m  thường có nhiệt độ thấp, mùa đông đến sớm từ tháng 11 và kéo dài đến giữa tháng 4. Nhiều khi  nhiệt độ xuống thấp tới  5-7oC. Vì vậy thời vụ chính của vùng này là vụ xuân-hè
Vụ xuân-hè : Gieo vào hạ tuần tháng 4 đến đầu tháng 5, thu hoạch cuối tháng 8 đầu tháng 9.  với các giống 885, VN 885, C919,  LVN 25. VN8960; LVN61 và LCH9.
Ngoài ra, có thể trồng ngô hè-thu trên đất cao dễ thoát nước (Cao Bằng, Lạng Sơn) và ngô thu đông.
Vụ hè-thu: Gieo vào tháng 6, tháng 7 với các giống: LVN10, LNV61, LVN8960, LVN45, LVN4, LVN99, C919, NK54, NK4300, VN2, Bioseed 9680….
Vụ thu-đông: Gieo vào cuối tháng 8 đến đầu tháng 9 trên đất bãi sông, trên đất ngô ngắn ngày  và trên đất bỏ hoá vụ xuân


 

 

 

 

ABC

Ban biên tập

TT

Họ và tên

Cơ quan công tác

1

TS. Nguyễn Văn Vấn

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

2

PGS.TS. Nguyễn Văn Viết

Ban Khoa học & HTQT, Viện KHNNVN

3

TS. Hồ Quang Đức

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

4

TS. Nguyễn Công Vinh

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

5

ThS. Lê Văn Hải

Viện Nghiên cứu Ngô

6

ThS. Nguyễn Hoàng Long

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

7

ThS. Phạm Thị Xuân

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

8

CN. Lê Thị Liên

Ban Thông tin, Viện KHNNVN

9

CN. Phạm Hồng Hạnh

Viện Bảo vệ thực vật

Ban Thông tin - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Địa chỉ: Vĩnh Quỳnh - Thanh Trì - Hà Nội